HÔM NAY: Thứ năm 06/08/2026 16:20
HOTLINE: (024) 62873428 (1011-1036).

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG KINH DOANH CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH TỪ THỰC TIỄN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch, pháp luật về kinh doanh cơ sở lưu trú (KDCSLT) du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm quyền lợi của du khách. Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động KDCSLT, đồng thời chỉ ra những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý về KDCSLT, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế và chuyển đổi số hiện nay. Từ khóa: Kinh doanh cơ sở lưu trú; pháp luật du lịch; Thành phố Hồ Chí Minh; quản lý nhà nước. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026

SOME ISSUES CONCERNING THE IMPROVEMENT OF THE LEGAL FRAMEWORK GOVERNING THE OPERATION OF TOURIST ACCOMMODATION ESTABLISHMENTS: EVIDENCE FROM HO CHI MINH CITY

Abstract: In the context of the rapid development of the tourism industry, the legal framework for the operation of tourist accommodation businesses (TABS) plays a crucial role in fostering a healthy business environment, improving service quality, and ensuring the rights of tourists. This article analyzes the current legal regulations governing TABS operations and identifies shortcomings and challenges in their practical application in Ho Chi Minh City. Based on this analysis, the article proposes several solutions to improve the legal framework for TABS, aiming to enhance state management efficiency and promote the sustainable development of the tourism industry in the era of economic integration and digital transformation. Keywords: Tourist accommodation business; tourism law; Ho Chi Minh City; state management. Date of receipt: 20/4/2026 Date of revision: 10/6/2026 Date of approval: 16/7/2026

Đặt vấn đề: Đặt vấn đề: Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành du lịch, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch tại Việt Nam. Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương có tốc độ phát triển du lịch mạnh mẽ, với hệ thống cơ sở lưu trú đa dạng và quy mô ngày càng mở rộng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật đối với KDCSLT tại địa bàn này vẫn còn tồn tại nhiều thách thức. Một mặt, khung pháp lý điều chỉnh KDCSLT chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của thị trường, dẫn đến nhiều khoảng trống pháp lý, chưa bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả quản lý. Mặt khác, việc thực thi pháp luật còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc kiểm soát chất lượng dịch vụ, quản lý hoạt động của các loại hình lưu trú mới phát sinh, và xử lý tình trạng kinh doanh không phép. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về KDCSLT từ thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết nhằm nhận diện những bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch trong giai đoạn mới. Để giải quyết các vấn đề đã đặt ra, bài viết sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý như: Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp thống kê.

1. Khái quát chung pháp luật về kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch

Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch (CSLTDL) là một hoạt động kinh tế trong lĩnh vực dịch vụ, nhằm cung cấp các sản phẩm đặc thù bao gồm dịch vụ lưu trú tạm thời, dịch vụ ăn uống và các dịch vụ bổ sung, đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, sinh hoạt và giải trí của khách du lịch. Theo quy định tại Điều 48 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: “CSLTDL là nơi cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch”. Nội dung pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh CSLTDL bao gồm: “Điều kiện kinh doanh, quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh, tiêu chuẩn xếp hạng và các quy định về quản lý nhà nước”. Các CSLTDL phải đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ nhân sự, vệ sinh an toàn thực phẩm, an ninh trật tự và bảo vệ môi trường theo các quy định hiện hành. Khái niệm kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch có thể được định nghĩa như sau: “Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch là hoạt động thuộc lĩnh vực kinh doanh dịch vụ du lịch, cung cấp dịch vụ lưu trú tạm thời và các dịch vụ bổ sung khác, nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí và sinh hoạt của khách du lịch, với mục tiêu sinh lời và thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch”. Với cách tiếp cận trên, pháp luật về kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch có những đặc điểm sau: Thứ nhất, kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch là hoạt động đầu tư kinh doanh có dung lượng vốn rất lớn. Các cơ sở lưu trú không chỉ phải đầu tư vào việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, mà còn cần duy trì các tiêu chuẩn cao về chất lượng dịch vụ để thu hút khách hàng. Thứ hai, hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch có nguồn lao động trực tiếp rất lớn. Hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch yêu cầu một nguồn lao động trực tiếp đông đảo và đa dạng. Đặc biệt, trong các mùa du lịch cao điểm, nhu cầu lao động càng trở nên lớn, điều này đòi hỏi các cơ sở lưu trú phải chuẩn bị sẵn sàng một đội ngũ nhân sự đủ năng lực và số lượng. Thứ ba, hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch phụ thuộc nguồn tài nguyên du lịch nơi cơ sở lưu trú du lịch hoạt động kinh doanh. Các cơ sở lưu trú chủ yếu phát triển ở các khu vực có tiềm năng du lịch cao như khu di tích lịch sử, khu vực nghỉ dưỡng, và các điểm tham quan thiên nhiên hoặc văn hóa nổi tiếng3. Thứ tư, hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch mang tính thời vụ. Nhu cầu về dịch vụ lưu trú thay đổi theo mùa du lịch, với các mùa cao điểm như lễ hội, mùa hè, và các kỳ nghỉ lễ dài, do đó các doanh nghiệp trong ngành cần có chiến lược điều chỉnh linh hoạt để duy trì hoạt động và tối ưu hóa lợi nhuận.

2. Thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh

2.1. Thực trạng quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch

Hiện nay, hoạt động kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch tại Việt Nam được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật tương đối đa dạng và có tính liên ngành, trong đó nền tảng pháp lý quan trọng nhất là Luật Du lịch năm 2017. Đây là văn bản pháp lý chuyên ngành quy định trực tiếp về điều kiện kinh doanh, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch cũng như cơ chế quản lý nhà nước đối với loại hình dịch vụ này. Theo quy định tại Điều 48 Luật Du lịch năm 2017, cơ sở lưu trú du lịch được xác định là nơi cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch, bao gồm nhiều loại hình như khách sạn, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, tàu thủy lưu trú du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê (homestay), bãi cắm trại du lịch và các cơ sở lưu trú khác. Việc ghi nhận đa dạng các loại hình lưu trú trong luật thể hiện định hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh nhằm đáp ứng sự phát triển của thị trường du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế và chuyển đổi mô hình kinh doanh dịch vụ. Bên cạnh việc xác định các loại hình cơ sở lưu trú, pháp luật hiện hành còn quy định cụ thể về điều kiện kinh doanh lưu trú du lịch. Theo Điều 49 Luật Du lịch năm 2017, tổ chức, cá nhân kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch phải đáp ứng các điều kiện cơ bản gồm: có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; bảo đảm điều kiện về an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đáp ứng yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật chuyên ngành; đồng thời bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ phục vụ khách du lịch phù hợp với tiêu chuẩn của từng loại cơ sở lưu trú. Ngoài Luật Du lịch, hoạt động kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch còn chịu sự điều chỉnh đồng thời của nhiều văn bản pháp luật khác nhau do đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện và liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước. Về mặt chủ thể kinh doanh, việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh lưu trú được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp năm 2020; về điều kiện tiếp cận thị trường và hoạt động đầu tư chịu sự điều chỉnh của Luật Đầu tư năm 2020; về công tác bảo đảm an toàn cháy nổ được điều chỉnh bởi Luật Phòng cháy và chữa cháy và các văn bản hướng dẫn thi hành; về nghĩa vụ bảo vệ môi trường chịu sự điều chỉnh của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Đáng chú ý, pháp luật hiện hành cũng thiết lập cơ chế quản lý chất lượng thông qua hoạt động xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch. Theo Điều 50 Luật Du lịch năm 2017, cơ sở lưu trú du lịch được phân hạng theo tiêu chuẩn từ 01 sao đến 05 sao trên cơ sở tự nguyện của tổ chức, cá nhân kinh doanh. Bên cạnh các quy định về điều kiện kinh doanh và phân hạng cơ sở lưu trú, pháp luật Việt Nam cũng đã xây dựng hệ thống chế tài xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch nhằm bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước. Các hành vi vi phạm trong kinh doanh lưu trú du lịch như hoạt động không bảo đảm điều kiện kinh doanh, không thực hiện đăng ký tạm trú cho khách du lịch, quảng cáo sai sự thật về tiêu chuẩn dịch vụ, vi phạm quy định về an ninh trật tự hoặc phòng cháy chữa cháy đều có thể bị xử phạt theo Nghị định số 45/2019/NĐ-CP và các văn bản pháp luật có liên quan. Việc quy định chế tài xử phạt thể hiện vai trò quản lý của Nhà nước trong việc duy trì trật tự hoạt động kinh doanh du lịch, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch cũng như bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh. Có thể nhận diện một số bất cập trong quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch như sau: Thứ nhất, quy định về điều kiện kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch còn mang tính khung, chưa cụ thể và chưa theo kịp sự phát triển của các loại hình lưu trú mới. Cụ thể, theo Điều 49 Luật Du lịch năm 2017, điều kiện kinh doanh cơ sở lưu trú chỉ dừng lại ở các tiêu chí chung như bảo đảm cơ sở vật chất, an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy và bảo vệ môi trường, nhưng chưa có quy định chi tiết đối với các mô hình mới như homestay, căn hộ du lịch (condotel), lưu trú chia sẻ (Airbnb). Điều này dẫn đến khoảng trống pháp lý trong quản lý thực tiễn. Thứ hai, quy định về phân hạng cơ sở lưu trú du lịch còn thiếu tính bắt buộc và chưa gắn chặt với cơ chế kiểm soát chất lượng. Theo Điều 50 Luật Du lịch năm 2017, việc xếp hạng cơ sở lưu trú được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, dẫn đến tình trạng nhiều cơ sở không đăng ký xếp hạng nhưng vẫn hoạt động, gây khó khăn trong việc kiểm soát chất lượng dịch vụ và bảo vệ quyền lợi du khách. Thứ ba, hệ thống quy định pháp luật liên quan còn thiếu tính đồng bộ giữa các văn bản chuyên ngành. Hoạt động kinh doanh cơ sở lưu trú đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều luật khác nhau như Luật Du lịch năm 2017, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Đầu tư năm 2020, Luật Phòng cháy và chữa cháy, tuy nhiên chưa có cơ chế phối hợp rõ ràng giữa các cơ quan quản lý, dẫn đến chồng chéo trong thủ tục hành chính và kiểm tra, giám sát. Thứ tư, chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh lưu trú du lịch chưa đủ sức răn đe. Theo quy định tại Nghị định số 45/2019/NĐ-CP, mức xử phạt đối với nhiều hành vi vi phạm còn thấp, chưa tương xứng với lợi ích kinh tế mà chủ thể vi phạm có thể đạt được, dẫn đến tình trạng vi phạm vẫn tái diễn trong thực tế. Thứ năm, pháp luật hiện hành chưa quy định đầy đủ về quản lý hoạt động kinh doanh lưu trú trên nền tảng số. Các mô hình như Airbnb, Booking. com phát triển mạnh nhưng chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý của chủ thể trung gian nền tảng, gây khó khăn cho công tác quản lý thuế và kiểm soát hoạt động kinh doanh. Xét đến nguyên nhân của những hạn chế, những hạn chế trong công tác phát triển kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh xuất phát từ một số nguyên nhân chủ quan như sau: Trước hết, một trong những nguyên nhân chủ quan quan trọng dẫn đến các hạn chế trong công tác quy hoạch và phát triển du lịch chính là nguồn kinh phí hạn hẹp. Ngân sách phân bổ cho hoạt động này không chỉ ở mức thấp mà còn chưa được sử dụng hiệu quả, dẫn đến nhiều bất cập trong quá trình thực hiện. Việc thiếu nguồn kinh phí đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng triển khai các dự án quy hoạch, khiến nhiều dự án không thể thực hiện đúng tiến độ hoặc bị đình trệ kéo dài4. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt kinh phí còn làm chậm trễ quy trình thẩm định và trình duyệt các kế hoạch quy hoạch, bởi vì khâu này đòi hỏi sự đầu tư không chỉ về tài chính mà còn cả nhân lực có chuyên môn cao để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của các quy hoạch.

2.2. Tình hình thực hiện kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng và sự đa dạng của các cơ sở lưu trú du lịch. Tính đến cuối năm 2023, Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh thống kê có tổng cộng 2.248 CSLTDL đang hoạt động, bao gồm 130 khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao, 350 khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao, 890 khách sạn 1-3 sao và hơn 878 homestay, nhà nghỉ và căn hộ dịch vụ. Những con số này cho thấy sự phát triển nhanh chóng của ngành lưu trú du lịch tại thành phố, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khoảng 35 triệu lượt khách du lịch nội địa và quốc tế trong năm 20235. Về lượng khách quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm 2024 là 480.984 lượt, tăng 30,3% so cùng kỳ năm 2023 (tháng 3 năm 2023 là 369.087 lượt), 3 tháng đầu năm 2024 ước đạt là 1.384.316 lượt, tăng 32,4% so cùng kỳ năm 2023 tháng đầu năm 2023 là 1.045.652 lượt), đạt 23% so với kế hoạch năm 2024. Khách du lịch nội địa đến Thành phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm 2024 ước đạt là 2.911.604 lượt, tăng 1% so cùng kỳ năm 2023 (tháng 3 năm 2023 là 2.889.114 lượt); 3 tháng đầu năm 2024 ước đạt là 8.063.316 lượt, tăng 6,6% so cùng kỳ năm 2023 (3 tháng đầu năm 2023 là 7.562.549 lượt), đạt 21,2% so với kế hoạch năm 2024. Từ thực tiễn trên, có thể nhận diện một số bất cập trong quá trình thực hiện như sau: Thứ nhất, số lượng cơ sở lưu trú du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh tăng nhanh nhưng công tác quản lý chưa theo kịp. Sự phát triển mạnh của khách sạn, homestay, căn hộ du lịch và các mô hình lưu trú mới đáp ứng nhu cầu của thị trường, song cũng tạo áp lực lớn cho cơ quan quản lý. Nhiều cơ sở hoạt động nhưng chưa được cập nhật, kiểm tra đầy đủ, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý và chất lượng dịch vụ. Thứ hai, việc chấp hành các điều kiện kinh doanh còn chưa nghiêm. Một số cơ sở lưu trú chưa đáp ứng đầy đủ quy định về phòng cháy, chữa cháy, an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường hoặc chưa hoàn tất thủ tục pháp lý trước khi đưa vào kinh doanh. Nguyên nhân chủ yếu là nhận thức pháp luật của một bộ phận chủ cơ sở còn hạn chế, trong khi công tác thanh tra, kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên. Thứ ba, pháp luật chưa theo kịp sự phát triển của các mô hình lưu trú mới. Hoạt động kinh doanh thông qua Airbnb, homestay hoặc căn hộ cho thuê ngắn hạn ngày càng phổ biến nhưng vẫn thiếu quy định quản lý cụ thể. Điều này gây khó khăn trong việc kiểm soát điều kiện kinh doanh, nghĩa vụ thuế và chất lượng dịch vụ, đồng thời tạo ra sự thiếu bình đẳng giữa các loại hình lưu trú. Thứ tư, sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý còn thiếu đồng bộ. Việc quản lý cơ sở lưu trú liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau nhưng cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin chưa thật sự hiệu quả. Vì vậy, việc phát hiện và xử lý vi phạm trong nhiều trường hợp còn chậm, làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước. Thứ năm, ứng dụng công nghệ số trong quản lý cơ sở lưu trú vẫn còn hạn chế. Mặc dù nhiều thủ tục đã được thực hiện trực tuyến, nhưng dữ liệu giữa các cơ quan chưa được kết nối đồng bộ. Điều này ảnh hưởng đến công tác theo dõi, kiểm tra và quản lý hoạt động kinh doanh cơ sở lưu trú. Đánh giá chung, pháp luật về kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động kinh doanh và quản lý nhà nước. Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh của thị trường và các mô hình lưu trú mới, một số quy định đã bộc lộ hạn chế, trong khi hiệu quả thực thi còn chưa cao. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của ngành du lịch6. Xét đến nguyên nhân của những hạn chế, những hạn chế trong công tác phát triển kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh xuất phát từ một số nguyên nhân chủ quan như sau: Thứ nhất, hệ thống pháp luật chưa theo kịp sự phát triển của thị trường du lịch. Sự xuất hiện của các loại hình lưu trú mới như homestay, căn hộ du lịch và mô hình kinh doanh trên nền tảng số diễn ra nhanh hơn quá trình sửa đổi, bổ sung pháp luật. Vì vậy, một số quy định hiện hành chưa đáp ứng yêu cầu quản lý trong thực tiễn. Thứ hai, công tác quản lý nhà nước còn thiếu tính đồng bộ. Việc quản lý cơ sở lưu trú liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau nhưng cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin và kiểm tra chưa thực sự hiệu quả. Điều này làm giảm khả năng phát hiện, xử lý vi phạm và nâng cao chất lượng quản lý. Thứ ba, ý thức tuân thủ pháp luật của một bộ phận cơ sở kinh doanh còn hạn chế. Một số chủ cơ sở chưa thực hiện đầy đủ các quy định về đăng ký kinh doanh, điều kiện an ninh, phòng cháy, chữa cháy, khai báo lưu trú và nghĩa vụ thuế. Việc chạy theo lợi nhuận khiến một số cơ sở chưa quan tâm đúng mức đến yêu cầu pháp lý. Thứ tư, nguồn lực phục vụ công tác quản lý còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ quản lý, thanh tra chuyên ngành còn mỏng trong khi số lượng cơ sở lưu trú ngày càng tăng. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung chưa hoàn thiện, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Thứ năm, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa đạt hiệu quả cao. Hoạt động hướng dẫn, tập huấn và hỗ trợ pháp lý cho các cơ sở kinh doanh chưa được thực hiện thường xuyên, đặc biệt đối với các cơ sở lưu trú quy mô nhỏ và hộ kinh doanh cá thể. Điều này dẫn đến việc nhiều chủ thể chưa nắm đầy đủ quy định pháp luật khi tham gia hoạt động kinh doanh. Những hạn chế trong hoạt động kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, sự thay đổi nhanh của thị trường du lịch, cùng với những bất cập trong hệ thống pháp luật và công tác tổ chức thực hiện, là các nguyên nhân chủ yếu làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật cần được thực hiện đồng thời với nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý, tăng cường ứng dụng công nghệ số và nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể kinh doanh. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng môi trường kinh doanh lưu trú minh bạch, an toàn và phát triển bền vững7.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch từ thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh

Từ những bất cập trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh, việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch cần được thực hiện theo hướng đồng bộ, cụ thể và phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế số và hội nhập quốc tế. Theo đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị như sau: Thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung Luật Du lịch năm 2017 theo hướng hoàn thiện quy định về điều kiện kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch đối với từng loại hình cụ thể. Hiện nay, các quy định tại Điều 49 Luật Du lịch năm 2017 vẫn mang tính khung, chưa có sự phân hóa rõ ràng giữa các loại hình lưu trú truyền thống và các mô hình lưu trú mới như homestay, condotel hoặc lưu trú chia sẻ thông qua nền tảng số. Do đó, cần bổ sung các tiêu chí pháp lý cụ thể về tiêu chuẩn cơ sở vật chất, điều kiện an toàn, trách nhiệm đăng ký kinh doanh, nghĩa vụ thuế và trách nhiệm bảo vệ quyền lợi khách du lịch đối với từng mô hình. Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở lưu trú nhằm hạn chế tình trạng kinh doanh tự phát và thiếu kiểm soát như hiện nay. Thứ hai, cần hoàn thiện cơ chế phân hạng cơ sở lưu trú du lịch theo hướng nâng cao tính bắt buộc và hiệu quả kiểm soát chất lượng dịch vụ. Quy định tại Điều 50 Luật Du lịch năm 2017 hiện đang áp dụng cơ chế xếp hạng trên cơ sở tự nguyện, dẫn đến tình trạng nhiều cơ sở lưu trú hoạt động mà không tham gia phân hạng, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước và ảnh hưởng đến quyền lợi của khách du lịch. Vì vậy, cần sửa đổi theo hướng bắt buộc xếp hạng đối với các cơ sở lưu trú có quy mô lớn, phục vụ khách quốc tế hoặc hoạt động trên nền tảng trực tuyến. Đồng thời, cần bổ sung cơ chế hậu kiểm định kỳ, quy định cụ thể về thu hồi hạng đối với các cơ sở không duy trì tiêu chuẩn chất lượng đã được công nhận nhằm bảo đảm tính minh bạch và nâng cao chất lượng dịch vụ lưu trú du lịch. Thứ ba, cần xây dựng khung pháp lý riêng đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch trên nền tảng số. Trong bối cảnh các mô hình kinh doanh như Airbnb, Booking.com và Agoda phát triển mạnh, pháp luật hiện hành vẫn chưa quy định đầy đủ về trách nhiệm pháp lý của các nền tảng trung gian. Do đó, cần bổ sung quy định về nghĩa vụ kê khai, chia sẻ dữ liệu lưu trú, thực hiện nghĩa vụ thuế và phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước trong công tác kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế quản lý dữ liệu số liên thông giữa cơ quan du lịch, cơ quan thuế, công an và chính quyền địa phương nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động lưu trú trực tuyến. Thứ tư, cần tăng cường hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước và hệ thống thông tin về kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý lưu trú, xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn thành phố, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý trong hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Ngoài ra, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho các chủ thể kinh doanh lưu trú thông qua các chương trình tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp lý và kỹ năng quản trị nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và chất lượng dịch vụ du lịch. Thứ năm, cần chú trọng xây dựng và phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực kinh doanh lưu trú du lịch theo hướng chuyên nghiệp và bền vững. Thành phố Hồ Chí Minh cần ban hành các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo kỹ năng quản trị và ngoại ngữ cho đội ngũ lao động trong các cơ sở lưu trú du lịch, đặc biệt là lao động tại các cơ sở lưu trú vừa và nhỏ. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp du lịch nhằm bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế đào tạo nguồn nhân lực kế cận cho ngành lưu trú du lịch nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động có trình độ chuyên môn trong bối cảnh thị trường du lịch phục hồi và phát triển nhanh chóng. Thứ sáu, cần hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực tài chính phục vụ công tác quản lý nhà nước về lưu trú du lịch. Nhà nước và chính quyền địa phương cần có chính sách ưu tiên ngân sách cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch và lưu trú du lịch; đồng thời xây dựng cơ chế hỗ trợ tài chính đối với các chương trình chuyển đổi số, nâng cấp cơ sở vật chất và cải thiện chất lượng dịch vụ của các cơ sở lưu trú. Việc bảo đảm nguồn lực tài chính ổn định sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, tăng cường chất lượng quản lý nhà nước và thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.

Kết luận: Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh có vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành du lịch, góp phần thúc đẩy kinh tế và nâng cao hình ảnh du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý hoạt động KDCSLT vẫn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là những hạn chế trong hệ thống pháp luật điều chỉnh. Việc hoàn thiện khung pháp lý về KDCSLT không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, đảm bảo sự minh bạch và công bằng trong hoạt động kinh doanh mà còn tạo động lực thu hút đầu tư, phát triển dịch vụ lưu trú theo hướng chuyên nghiệp và bền vững. Do đó, cần tiếp tục rà soát, điều chỉnh các quy định pháp luật để phù hợp với thực tiễn, đồng thời nâng cao công tác kiểm tra, giám sát và hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình tuân thủ pháp luật. Một hệ thống pháp luật đồng bộ, rõ ràng và hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển ổn định, bền vững của ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trường Cao đẳng Công thương Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật Du lịch, Lưu hành nội bộ.

2. Nguyễn Bá Lâm (2006), Giáo trình Tổng quan du lịch, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội.

3. Trịnh Minh Chánh (2021), Giáo trình Luật Du lịch, Nxb Thống kê, Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh.

4. Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2024), Giáo trình Pháp Luật về chủ thể kinh doanh, Nxb Hồng Đức.

5. Nguyễn Trùng Khánh (2012), Phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế: kinh nghiệm của một số nước Đông Á và gợi ý chính sách cho Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội.

6. Lê Công Bằng (2014), Pháp luật kinh doanh lữ hành, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

7. Phan Nhật Vũ (2015), Pháp luật về kinh doanh cơ sở lưu trú, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

8. Hoàng Thị Tâm (2018), Điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.

9. Nguyễn Thị Minh Thảo (2018), Điều kiện kinh doanh du lịch lữ hành theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.

Nguyễn Trọng Tuấn, Hoàng Quốc Thanh

Bài liên quan

Tin bài khác

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG ĐIỀU KIỆN TỔ CHỨC 
MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG ĐIỀU KIỆN TỔ CHỨC MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP

Tóm tắt: Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 và sự hình thành siêu đô thị sau sáp nhập, việc hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích thực trạng thiếu tương thích giữa thẩm quyền đặc thù được mở rộng với năng lực thực thi và nguồn lực của bộ máy hiện hành khi không còn cấp trung gian. Từ đó, tác giả đề định hướng hoàn thiện tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt về tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh. Từ khóa: Chính quyền đô thị; phân cấp; chính quyền địa phương hai cấp; tổ chức bộ máy; Thành phố Hồ Chí Minh. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 78/2025/AL - RANH GIỚI PHÁP LÝ 
GIỮA “THÀNH VIÊN CÔNG TY” VÀ “NGƯỜI HỢP TÁC KINH DOANH”

BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 78/2025/AL - RANH GIỚI PHÁP LÝ GIỮA “THÀNH VIÊN CÔNG TY” VÀ “NGƯỜI HỢP TÁC KINH DOANH”

Tóm tắt: Mặc dù Luật Doanh nghiệp năm 2014, sau đó là Luật Doanh nghiệp năm 2020 (được sửa đổi, bổ sung các năm 2022, 2025), đã từng bước hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty, nhưng thực tiễn vẫn phát sinh nhiều tranh chấp liên quan đến việc góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH). Một trong những vấn đề phức tạp là khi một người góp tiền vào công ty, được chia lợi nhuận và tham gia một số quyền lợi như thành viên, nhưng tên lại không được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đồng thời công ty cũng không thực hiện thủ tục tăng vốn điều lệ theo quy định. Trước tình trạng thiếu nhất quán trong xét xử, Án lệ ra đời nhằm xác lập nguyên tắc giải quyết tranh chấp về góp vốn trong công ty TNHH, phân biệt rõ giữa góp vốn điều lệ (với mục đích trở thành thành viên công ty) và góp vốn kinh doanh (chỉ nhằm tăng cường nguồn lực tài chính và phân chia lợi nhuận). Bài viết này tập trung phân tích cơ sở pháp lý, nội dung, những tác động cũng như các bất cập của Án lệ, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng án lệ trong thực tiễn. Từ khóa: Án lệ 78; góp vốn; không có thỏa thuận về góp vốn điều lệ; góp vốn nhằm mục đích kinh doanh. Nhận bài: 20/3/2026 Hoàn thành biên tập: 20/5/2026 Duyệt đăng: 03/6/2026
ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
LUẬT SƯ CÔNG TẠI HỌC VIỆN TƯ PHÁP

ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LUẬT SƯ CÔNG TẠI HỌC VIỆN TƯ PHÁP

Tóm tắt: Trong bối cảnh các vụ kiện hành chính và tranh chấp đầu tư quốc tế gia tăng mạnh mẽ, việc triển khai thí điểm chế định Luật sư công (LSC) theo Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về việc thí điểm thực hiện chế định LSC (Nghị quyết số 24/2026/QH16) là bước đi chiến lược nhằm bảo vệ tối ưu lợi ích quốc gia và quyền lợi của Nhà nước. Bài viết tập trung nghiên cứu và đề xuất định hướng xây dựng khung chương trình đào tạo LSC tại Học viện Tư pháp. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng để chuẩn hóa lộ trình đào tạo, góp phần xây dựng nền quản trị công minh bạch và chuyên nghiệp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ khóa: Luật sư, luật sư công, khung chương trình, chương trình đào tạo. Nhận bài: 26/5/2026 Hoàn thành biên tập: 28/5/2026 Duyệt đăng: 03/6/2026
THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO LUẬT 
Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ

THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO LUẬT Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo trong những năm gần đây đang góp phần làm thay đổi môi trường giáo dục đại học trên phạm vi toàn cầu. Trong lĩnh vực đào tạo luật, nơi tư duy phản biện, năng lực lập luận và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp giữ vai trò trung tâm, những tác động này mang tính cấu trúc và lâu dài. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đào tạo luật, khảo sát thực trạng sử dụng công nghệ này của 714 sinh viên ngành luật tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Nghệ An, đồng thời nhận diện những thách thức đối với chất lượng và mục tiêu đào tạo luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy trí tuệ nhân tạo đã được sử dụng phổ biến trong hầu hết các hoạt động học tập, trong khi khung pháp lý và cơ chế quản lý học thuật chưa được hoàn thiện tương xứng. Trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng điều chỉnh chính sách và triết lý giáo dục nhằm bảo đảm việc tích hợp công nghệ diễn ra phù hợp với giá trị cốt lõi của nghề luật. Từ khóa: Trí tuệ nhân tạo; đào tạo luật; giáo dục pháp luật; liêm chính học thuật; chuyển đổi số. Nhận bài: 20/3/2026 Hoàn thành biên tập: 20/5/2026 Duyệt đăng: 03/6/2026
KIỂM SOÁT HIỆN TƯỢNG KÉO DÀI BẢO HỘ ĐỘC QUYỀN SÁNG CHẾ 
TRONG LĨNH VỰC DƯỢC PHẨM - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 
VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

KIỂM SOÁT HIỆN TƯỢNG KÉO DÀI BẢO HỘ ĐỘC QUYỀN SÁNG CHẾ TRONG LĨNH VỰC DƯỢC PHẨM - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Tóm tắt: Bảo hộ độc quyền sáng chế không chỉ là quy định mà còn thể hiện chính sách và sự khuyến khích của pháp luật dành cho sản phẩm sáng tạo đổi mới. Tuy nhiên, nội dung này chỉ phát huy đúng giá trị khi loại bỏ những yếu tố trục lợi từ các chủ thể có liên quan. Bài viết phân tích hiện tượng kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế (KDBHĐQSC), làm rõ ranh giới giữa đổi mới sáng tạo hợp pháp (legitimate innovation) và kéo dài độc quyền sáng chế (evergreening), khảo sát kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Ấn Độ trong việc kiểm soát sáng chế dược phẩm thứ cấp, đồng thời đánh giá thực trạng kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm hạn chế nguy cơ kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm nhưng vẫn bảo đảm động lực đổi mới sáng tạo và tuân thủ các cam kết quốc tế của Việt Nam. Từ khóa: Kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế; sáng chế dược phẩm; sáng chế thứ cấp; quyền tiếp cận thuốc; Luật Sở hữu trí tuệ; TRIPS. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI 
VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

Tóm tắt: Việc ban hành Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã ghi nhận một bước tiến quan trọng trong việc cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lao động và an sinh xã hội ở Việt Nam. Bài viết phân tích những điểm mới của Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Đồng thời đưa ra một số tác động của những quy định này đến thị trường nhân lực lao động Việt Nam, hướng đến nguồn nhân lực phát triển bền vững, thích ứng với yêu cầu của thời đại chuyển đổi số và quá trình hội nhập quốc tế. Từ khóa: Luật Việc làm; Luật Bảo hiểm xã hội; Thị trường lao động; An sinh xã hội; nguồn nhân lực. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 
CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế nền tảng đã làm gia tăng mạnh mẽ lực lượng người lao động (NLĐ) cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số tại Việt Nam. Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong thị trường lao động và nền kinh tế đô thị, nhóm lao động này đang đối mặt với tình trạng thu nhập thiếu ổn định, phụ thuộc lớn vào thuật toán và cơ chế chia sẻ doanh thu do doanh nghiệp nền tảng đơn phương quyết định, trong khi chưa được bảo vệ đầy đủ bởi pháp luật lao động và an sinh xã hội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về bảo đảm thu nhập trong bối cảnh lao động nền tảng, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến lao động, bảo hiểm xã hội (BHXH) và pháp luật chuyên ngành về vận tải - nền tảng số, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý hiện nay. Trên cơ sở tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thu nhập ổn định, công bằng và bền vững cho NLĐ nền tảng. Từ khóa: Người lao động nền tảng; bảo đảm thu nhập; kinh tế nền tảng; pháp luật lao động; an sinh xã hội. Nhận bài: 20/11/2025 Hoàn thành biên tập: 20/12/2025 Duyệt đăng: 16/7/2026
BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC 
CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

Tóm tắt: Sự bùng nổ của nền kinh tế số làm xuất hiện Hợp đồng lao động điện tử (HĐLĐĐT), đặt ra thách thức lớn về sự giao thoa phức tạp giữa việc bảo vệ người lao động và rào cản kỹ thuật khắt khe của Luật Giao dịch điện tử. Bài viết nhằm bóc tách bản chất pháp lý, hệ thống hóa các điều kiện phát sinh hiệu lực của HĐLĐĐT và hậu quả pháp lý khi có tranh chấp. Qua nghiên cứu so sánh và phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam, tác giả kiến nghị áp dụng mô hình đánh giá theo phân tầng rủi ro và minh bạch trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Từ khoá: Giao dịch điện tử; hợp đồng lao động điện tử; hiệu lực; vô hiệu hợp đồng. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
ĐỐI VỚI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Tóm tắt: Bài viết phân tích điều kiện công nhận quyền sử dụng đất đối với đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo Điều 138 Luật Đất đai (LĐĐ) năm 2024, gồm các điều kiện về sử dụng đất ổn định, lâu dài, không vi phạm pháp luật đất đai và không có tranh chấp. Trên cơ sở làm rõ nền tảng lý luận và nhận diện những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, bài viết đề xuất các giải pháp pháp lý khả thi nhằm bảo đảm vai trò kép của Nhà nước vừa kiến tạo vừa điều tiết, dung hòa lợi ích công và lợi ích tư, qua đó nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật và thúc đẩy môi trường pháp lý bền vững về quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay. Từ khóa: Quyền sử dụng đất; đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất; Luật Đất đai năm 2024. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
XÁC ĐỊNH THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH CÓ CHUNG QUYỀN SỬ DỤNG 
ĐẤT NÔNG NGHIỆP - MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA 
THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024

XÁC ĐỊNH THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH CÓ CHUNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP - MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024

Tóm tắt: Việc xác định thành viên hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất (QSDĐ) là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình công nhận, cấp giấy chứng nhận, thực hiện các giao dịch chuyển QSDĐ và giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng. Bài viết phân tích vấn đề xác định thành viên hộ gia đình có chung QSDĐ nông nghiệp trong bối cảnh Luật Đất đai năm 2024 không còn ghi nhận hộ gia đình là một chủ thể sử dụng đất. Trên cơ sở làm rõ các tiêu chí xác định hộ gia đình sử dụng đất, bài viết chỉ ra một số vướng mắc phát sinh trong quá trình thực tiễn về căn cứ xác định thành viên có chung QSDĐ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp. Từ đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chủ thể có chung QSDĐ nông nghiệp đối với những thửa đất nông nghiệp có nguồn gốc cấp cho hộ gia đình. Từ khóa: Hộ gia đình sử dụng đất; QSDĐ nông nghiệp; thành viên hộ gia đình; Luật Đất đai năm 2024. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
jvol
SỐ RA MỚI NHẤT

Trong số này:

CẢI CÁCH TƯ PHÁP
• BẢO ĐẢM VAI TRÒ NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lưu Thị Ngọc Lan
1
• TƯ DUY, NHẬN THỨC MỚI VỀ CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO NGHIÊN CỨU, GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI
Võ Khánh Vinh, Võ Khánh Minh
7
• QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TƯ DUY XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trần Thị Quyên
19

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
• NƠI CƯ TRÚ, LÀM VIỆC CỦA BỊ ĐƠN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Nguyễn Chí Hiếu
24
• LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG XẢY RA DO SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG
Nguyễn Tống Bảo Minh
31
• MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG CHỨNG ĐIỆN TỬ THEO LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2024
Nguyễn Văn Mích, Lại Thị Bích Ngà
37
• QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH VÀ KINH DOANH ONLINE, THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG CẢI CÁCH THEO CƠ CHẾ DỮ LIỆU VÀ DÒNG TIỀN
Cao Tấn Nho
43
• TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Nguyễn Mai Anh
48
• QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Hà Trọng Bắc, Nguyễn Trung Dương
54
• MẪU HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Nguyễn Mai Linh
60

• THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Đặng Tiến Đông, Tô Quang Anh
67

ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG
• CHUẨN HÓA TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN HÀNH NGHỀ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ QUẢN TÀI VIÊN - YẾU TỐ THEN CHỐT THỰC THI HIỆU QUẢ THỦ TỤC PHỤC HỒI VÀ PHÁ SẢN
Bùi Thị Hà
75
PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
• MÔ HÌNH GIÁO DỤC THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TẠI ÚC - KINH NGHIỆM CHO ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT TẠI VIỆT NAM
Đào Lệ Thu, Phạm Tiến Thành
81
• MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN THÁC TÀI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC Ở HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Châu Loan
89
• MÔ HÌNH PHÂN BỔ QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguyễn Hoài Thu
96
• XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI TỐ CÁO HỢP PHÁP - BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ ÚC VÀ HOA KỲ
Trần Vang Phủ, Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi
103
• HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI RỬA TIỀN TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT HOA KỲ
Đỗ Khánh Linh, Nguyễn Huệ Linh
109
• XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIỚI BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ - KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nguyễn Hà Chi, Nguyễn Minh Phương, Đỗ Phương Linh
115