HÔM NAY: Thứ năm 06/08/2026 14:37
HOTLINE: (024) 62873428 (1011-1036).

XÁC ĐỊNH THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH CÓ CHUNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP - MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024

Tóm tắt: Việc xác định thành viên hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất (QSDĐ) là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình công nhận, cấp giấy chứng nhận, thực hiện các giao dịch chuyển QSDĐ và giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng. Bài viết phân tích vấn đề xác định thành viên hộ gia đình có chung QSDĐ nông nghiệp trong bối cảnh Luật Đất đai năm 2024 không còn ghi nhận hộ gia đình là một chủ thể sử dụng đất. Trên cơ sở làm rõ các tiêu chí xác định hộ gia đình sử dụng đất, bài viết chỉ ra một số vướng mắc phát sinh trong quá trình thực tiễn về căn cứ xác định thành viên có chung QSDĐ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp. Từ đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chủ thể có chung QSDĐ nông nghiệp đối với những thửa đất nông nghiệp có nguồn gốc cấp cho hộ gia đình. Từ khóa: Hộ gia đình sử dụng đất; QSDĐ nông nghiệp; thành viên hộ gia đình; Luật Đất đai năm 2024. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026

DETERMINING HOUSEHOLD MEMBERS WITH SHARED AGRICULTURAL LAND USE RIGHTS - SOME LEGAL ISSUES UNDER THE 2024 LAND LAW

Abstract: The identification of household members holding joint land use rights is of significant importance in the recognition and issuance of land use right certificates, the implementation of transactions involving the transfer of land use rights, and the resolution of disputes concerning land use rights in general and agricultural land use rights in particular. This article analyzes the determination of household members with shared agricultural land use rights in the context of the 2024 Land Law, which no longer recognizes households as land users. By clarifying the criteria for identifying land using households, the article identifies several issues arising in practice regarding the determination of household members with shared land use rights and the issuance of Certificates of Land Use Rights for agricultural land. Based on this analysis, the author proposes several recommendations for improving the legal framework governing persons with shared agricultural land use rights in relation to agricultural land parcels originally allocated to households. Keywords: Land-using household; agricultural land use rights; household members; shared land use rights; 2024 Land Law. Date of receipt: 20/4/2026 Date of revision: 10/6/2026 Date of approval: 16/7/2026

Đặt vấn đề: Luật Đất đai năm 2024 đã loại bỏ hộ gia đình khỏi nhóm chủ thể sử dụng đất và chỉ công nhận tư cách người sử dụng đất của hộ gia đình đối với các trường hợp đã được cấp đất trước ngày Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành. Đây là sự điều chỉnh hợp lý, góp phần bảo đảm tính thống nhất với Bộ luật Dân sự năm 2015 và góp phần tháo gỡ những vướng mắc đã tồn tại trong thực tiễn khi xác định tư cách chủ thể của hộ gia đình trong các giao dịch về QSDĐ. Tuy nhiên, trong lĩnh vực đất nông nghiệp, hộ gia đình vẫn là một “tồn tại pháp lý” có tính lịch sử, bởi phần lớn QSDĐ nông nghiệp trong các giai đoạn trước được Nhà nước giao, công nhận hoặc cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình. Do số lượng và diện tích đất nông nghiệp hiện nay được giao cho hộ gia đình sử dụng nên một vấn đề pháp lý quan trọng được đặt ra: làm thế nào để giải quyết ổn thỏa những hệ quả phát sinh đối với 12,5 triệu hộ gia đình đang tồn tại khi Luật Đất đai năm 2024 chính thức không còn thừa nhận tư cách chủ thể của hộ gia đình? Nếu không thiết lập cơ chế chuyển tiếp và bảo đảm phù hợp đối với các QSDĐ đã hình thành trước đó, sự thay đổi này có thể làm phát sinh những khoảng trống pháp lý nhất định, ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về đất đai cũng như quyền và nghĩa vụ của các thành viên hộ gia đình. Để làm rõ nội dung nghiên cứu, bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp các quy định pháp luật; phương pháp so sánh, đối chiếu Luật Đất đai năm 2024 và Bộ luật Dân sự năm 2015; đồng thời kết hợp phương pháp bình luận pháp lý nhằm nhận diện những vướng mắc và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

1. Khái quát về hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp

Trong hệ thống pháp luật đất đai Việt Nam, hộ gia đình là một chủ thể sử dụng đất mang tính đặc thù và đã trải qua một hành trình nhiều biến động. Xét về mặt lịch sử, quyền tự chủ trong việc sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình đã bắt đầu được xác lập từ Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới trong kinh tế nông nghiệp (thường gọi là Khoán 10). Sau một thời gian dài duy trì mô hình hợp tác xã theo Luật Đất đai năm 1987, thực tế đã bộc lộ những yếu kém nhất định dẫn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp thấp, không đáp ứng được nguyện vọng của người nông dân, do đó Nghị quyết Khoán 10 ra đời đã mang đến một sự thay đổi căn bản: với chủ trương giao ruộng đất trực tiếp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Quyết sách này đã giúp người nông dân thực sự gắn bó và làm chủ tư liệu sản xuất, đưa hộ gia đình trở thành một đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ. Chính sự chuyển biến từ thực tiễn sản xuất này là tiền đề quan trọng để Luật Đất đai năm 1993 và Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 Quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp chính thức công nhận tư cách pháp lý của chủ thể hộ gia đình. Từ đó đến nay, trải qua hơn ba thập kỷ áp dụng pháp luật đất đai, hộ gia đình luôn giữ vai trò là nhóm chủ thể sử dụng đất đông đảo nhất. Trải qua các thời kỳ từ Luật Đất đai năm 1987, 1993, 2003 cho đến năm 2013, hộ gia đình luôn được định vị là một chủ thể quan trọng được Nhà nước trực tiếp trao QSDĐ nông nghiệp thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng và được bảo hộ trọn vẹn các lợi ích hợp pháp khi tham gia giao dịch. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2023, cả nước hiện có khoảng 12,5 triệu hộ gia đình đang quản lý và sử dụng tới 14.951.395 ha trên tổng số 24.817.838 ha đất nông nghiệp. Tuy nhiên, trước những bất cập trong thực tiễn liên quan đến xác định thành viên hộ gia đình, quyền và nghĩa vụ khi định đoạt tài sản chung là QSDĐ đã xảy ra nhiều tranh chấp dẫn đến những khó khăn trong công tác quản lý và sử dụng đất hiệu quả thời gian qua, Luật Đất đai năm 2024 đã có một bước ngoặt lớn khi chính thức khép lại vai trò lịch sử của chủ thể này khi không còn ghi nhận “hộ gia đình” là một chủ thể sử dụng đất. Quy định này của Luật Đất đai đã góp phần thể hiện sự thống nhất pháp luật giữa các quy định của pháp luật đất đai, pháp luật dân sự, pháp luật kinh doanh bất động sản và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, góp phần minh bạch hóa quyền lợi của các thành viên trong hộ gia đình với tư cách là cá nhân sử dụng đất đồng thời cá thể hóa trách nhiệm của người sử dụng đất. Việc ghi nhận chủ thể này chỉ áp dụng đối với các hộ gia đình có các QSDĐ đã được xác lập trước thời điểm Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực, nhằm giải quyết các hệ quả pháp lý phát sinh và bảo đảm quyền tài sản của các thành viên hộ gia đình đã hình thành trong quá khứ. Luật Đất đai năm 2024 đã dự liệu tình huống này thông qua việc quy định cơ chế chuyển tiếp tại Điều 259 để xử lý QSDĐ đã được xác lập cho hộ gia đình trước đây. Theo đó, các hộ gia đình đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ hoặc nhận chuyển quyền trước thời điểm Luật có hiệu lực sẽ tham gia các quan hệ pháp luật hiện hành với tư cách là nhóm người sử dụng đất có chung QSDĐ theo quy định tại khoản 2 Điều 27. Đối với diện tích đất đã được xác lập quyền trước đó, nhóm chủ thể này tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ tương ứng theo quy định của pháp luật. Về thời hạn sử dụng đất, pháp luật tôn trọng các quyền đã được xác lập trước đây khi cho phép hộ gia đình tiếp tục sử dụng đất trong thời gian còn lại theo quyết định giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận QSDĐ. Tuy nhiên, khi hết thời hạn sử dụng, việc gia hạn không còn được thực hiện đối với chủ thể “hộ gia đình” mà phải chuyển sang hình thức gia hạn giao đất, cho thuê đất cho các cá nhân là thành viên hộ gia đình có chung QSDĐ theo quy định của pháp luật.

2. Một số vướng mắc trong quy định về chủ thể hộ gia đình hiện nay

Mặc dù có những thay đổi trong việc xác định chủ thể sử dụng đất, Luật Đất đai năm 2024 vẫn tiếp tục kế thừa cách định nghĩa “hộ gia đình sử dụng đất” từ Luật Đất đai năm 2013, theo quy định khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có QSDĐ chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ, nhận chuyển QSDĐ trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành”. Như vậy, để xác định tư cách thành viên của hộ gia đình sử dụng đất phải đáp ứng các điều kiện sau đây: (i) Các thành viên trong hộ gia đình là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Trong đó, quan hệ hôn nhân được hiểu là quan hệ vợ chồng được xác lập trên cơ sở kết hôn hợp pháp hoặc các trường hợp hôn nhân thực tế được pháp luật thừa nhận hoặc kết hôn trái pháp luật nhưng thuộc trường hợp được chuyển sang hôn nhân hợp pháp. Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người có cùng dòng máu, bao gồm quan hệ trực hệ và các quan hệ thân thích theo dòng máu trong phạm vi pháp luật ghi nhận. Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa cha nuôi, mẹ nuôi và con nuôi được xác lập hợp pháp. Tiêu chí này đặt ra nhằm phân biệt hộ gia đình sử dụng đất với các nhóm người chỉ có quan hệ cư trú, lao động, hợp tác sản xuất hoặc lợi ích kinh tế trên cùng một thửa đất. (ii) Các thành viên “đang sống chung” với nhau tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ, nhận chuyển QSDĐ. Khái niệm “đang sống chung” trong quy định về hộ gia đình sử dụng đất hiện vẫn chưa được giải thích cụ thể trong các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật đất đai. Về nguyên tắc, tiêu chí này nhằm xác định những thành viên cùng tồn tại trong một đơn vị hộ tại thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ hoặc nhận chuyển QSDĐ. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc xác định “đang sống chung” không đơn giản. Ngoài những trường hợp thành viên cư trú ổn định, lâu dài trên thửa đất và có thông tin đăng ký cư trú rõ ràng, còn có nhiều trường hợp khó xác định hơn, như con cái đi làm ăn xa nhưng vẫn coi thửa đất là nơi gắn bó lâu dài của gia đình; người thực tế không còn sinh sống tại thửa đất nhưng chưa tách khỏi hộ khẩu; hoặc người đã tách khẩu nhưng vẫn trực tiếp sinh sống, canh tác, quản lý thửa đất. (iii) Các thành viên hộ gia đình có QSDĐ chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ; nhận chuyển QSDĐ”. Từ các tiêu chí trên, thực tế đã phát sinh một số vướng mắc sau: Thứ nhất, vướng mắc trong căn cứ để xác định thành viên hộ gia đình còn chưa cụ thể Pháp luật đất đai hiện nay chưa có hướng dẫn đầy đủ về cách thức, quy trình và giá trị pháp lý của các tài liệu dùng để xác định chính xác thành viên hộ gia đình tại thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận QSDĐ nên thực tế có nhiều cách xác định khác nhau: Một là, căn cứ vào hồ sơ xác lập QSDĐ. Căn cứ theo hướng dẫn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ có hướng dẫn: Việc xác định ai là thành viên hộ gia đình phải căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Trường hợp cần thiết, Tòa án có thể yêu cầu Ủy ban nhân dân có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSDĐ xác định thành viên hộ gia đình tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSDĐ để làm căn cứ giải quyết vụ án và đưa họ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Khi giải quyết vụ án dân sự, ngoài những người là thành viên hộ gia đình có QSDĐ, Tòa án phải đưa người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất của hộ gia đình, người có công sức đóng góp làm tăng giá trị QSDĐ hoặc tài sản trên đất tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nhóm hồ sơ này có thể bao gồm quyết định giao đất, hồ sơ đăng ký kê khai, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận, sổ địa chính, sổ mục kê, danh sách giao đất nông nghiệp, tài liệu đo đạc, phương án giao đất nông nghiệp qua các thời kỳ và các tài liệu quản lý đất đai khác có liên quan. Về mặt pháp lý, các tài liệu này có giá trị quan trọng vì phản ánh nguồn gốc, thời điểm, căn cứ xác lập và quá trình đăng ký QSDĐ. Tuy nhiên, vướng mắc thực tiễn nằm ở chỗ, không phải mọi hồ sơ gốc đều thể hiện đầy đủ danh sách các thành viên có chung QSDĐ. Trong nhiều trường hợp, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận hoặc tài liệu địa chính chỉ ghi nhận chủ thể dưới dạng “hộ ông”, “hộ bà” hoặc tên người đại diện hộ gia đình, mà không ghi cụ thể từng thành viên có quyền. Vì vậy, hồ sơ xác lập quyền là căn cứ cần được ưu tiên, nhưng không phải lúc nào cũng đủ để giải quyết trọn vẹn yêu cầu xác định chủ thể. Hai là, căn cứ sổ hộ khẩu, dữ liệu cư trú hoặc xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về tình trạng cư trú tại thời điểm xác lập QSDĐ Trên thực tế trước đây, để xác định tiêu chí “đang sống chung” tại thời điểm Nhà nước giao đất, công nhận QSDĐ hoặc cấp Giấy chứng nhận, cơ quan công chứng, chứng thực, cơ quan đăng ký đất đai thường căn cứ vào sổ hộ khẩu cũ, thông tin cư trú hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về thành viên hộ gia đình. Đây là nhóm tài liệu có ý nghĩa nhất định trong việc làm rõ tình trạng cư trú, quan hệ nhân thân và dấu hiệu sống chung của các cá nhân tại một thời điểm nhất định. Tuy nhiên, việc sử dụng sổ hộ khẩu hoặc xác nhận cư trú như căn cứ chủ yếu để xác định thành viên hộ gia đình sử dụng đất là chưa thật chính xác. Về bản chất, sổ hộ khẩu là công cụ quản lý hành chính về cư trú, phản ánh tình trạng đăng ký thường trú của cá nhân trong một hộ tại một thời điểm nhất định. Tương tự, giấy xác nhận thông tin cư trú, xác nhận của cơ quan công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã chủ yếu có giá trị chứng minh về nhân thân, nơi cư trú hoặc lịch sử cư trú. Các tài liệu này có thể hỗ trợ việc xác định tiêu chí “đang sống chung”, nhưng không phải là căn cứ pháp lý trực tiếp để kết luận một cá nhân có hay không có QSDĐ chung. Vì vậy, nếu đồng nhất người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc trong xác nhận cư trú với người có QSDĐ chung thì sẽ dẫn đến sự nhầm lẫn giữa quan hệ quản lý hành chính về cư trú và quan hệ tài sản đối với QSDĐ. Một người có tên trong sổ hộ khẩu chưa chắc có quyền đối với thửa đất; ngược lại, người đã tách khẩu, chuyển nơi cư trú hoặc không còn đăng ký cư trú cùng hộ tại thời điểm hiện tại cũng không vì thế mà đương nhiên mất quyền nếu quyền đó đã được xác lập trước đây. Bất cập này càng rõ hơn sau khi Luật Cư trú năm 2020 bãi bỏ sổ hộ khẩu giấy và chuyển sang quản lý cư trú bằng cơ sở dữ liệu điện tử. Khi cần xác định tình trạng “đang sống chung” tại thời điểm cấp đất hoặc cấp Giấy chứng nhận trong quá khứ, các chủ thể thực hiện thủ tục thường phải đối chiếu nhiều nguồn tài liệu khác nhau như dữ liệu cư trú, giấy xác nhận thông tin về cư trú, giấy tờ hộ tịch hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, phường. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan công an chỉ có thể xác nhận thông tin thuộc phạm vi quản lý cư trú, hộ tịch hoặc tình hình nhân khẩu ở địa phương, chứ không có thẩm quyền xác nhận một cá nhân có QSDĐ chung trong hộ gia đình. Do đó, sổ hộ khẩu, dữ liệu cư trú và xác nhận của cơ quan có thẩm quyền chỉ nên được xem là nguồn tài liệu hỗ trợ để xác định tiêu chí “đang sống chung”, không thể thay thế hồ sơ đất đai trong việc xác định QSDĐ chung. Việc thiếu hướng dẫn thống nhất về giá trị chứng minh của các loại tài liệu cư trú, cũng như phạm vi xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan công an trong từng trường hợp, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh khó khăn khi công chứng, chứng thực và đăng ký biến động đối với giao dịch chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp có nguồn gốc cấp cho hộ gia đình. Ba là, công chứng viên tự đánh giá hồ sơ theo pháp luật chuyên ngành Căn cứ Công văn số 1167/BTP-BTTP ngày 02/3/2026 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số nội dung liên quan đến hoạt động công chứng và đấu giá tài sản, Bộ Tư pháp hướng dẫn về việc xác nhận thành viên hộ gia đình đối với hoạt động công chứng, theo đó, trường hợp công chứng giao dịch liên quan đến QSDĐ của hộ gia đình sử dụng đất mà giấy chứng nhận không xác định cụ thể các thành viên hộ gia đình thì công chứng viên phải căn cứ quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hộ tịch và quy định pháp luật có liên quan để xác định thành viên hộ gia đình sử dụng đất là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 25 Điều 3 của Luật Đất đai. Theo hướng dẫn trên, việc xác định thành viên hộ gia đình sử dụng đất cần căn cứ vào nguồn tài liệu, bao gồm hồ sơ đất đai, giấy tờ hộ tịch, thông tin cư trú và các tài liệu pháp lý khác có liên quan. Cách tiếp cận này là cần thiết, bởi mỗi loại tài liệu chỉ phản ánh một khía cạnh nhất định: hồ sơ đất đai phản ánh nguồn gốc và quá trình xác lập quyền; giấy tờ hộ tịch phản ánh quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng; dữ liệu cư trú phản ánh yếu tố sống chung tại một thời điểm nhất định. Tuy nhiên, do pháp luật hiện hành chưa quy định thật rõ thứ tự ưu tiên và giá trị chứng minh của từng loại tài liệu, do đó, việc xác định thành viên hộ gia đình trong hoạt động công chứng vẫn phụ thuộc đáng kể vào sự đánh giá nghiệp vụ của công chứng viên mà chưa có sự thống nhất chung. Mặt khác, theo hướng dẫn tại Công văn số 1277/CĐKDLTTĐĐ-ĐKĐĐ ngày 20/9/2024 về tăng cường chấn chỉnh việc giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận có hướng dẫn cơ quan giải quyết thủ tục hành chính về đất đai không được yêu cầu người dân và doanh nghiệp nộp thêm giấy tờ mà pháp luật không quy định. Việc xác định các thành viên có chung QSDĐ do các thành viên hộ gia đình này tự thỏa thuận và chịu trách nhiệm trước pháp luật; thành phần hồ sơ thực hiện thủ tục không quy định nộp giấy tờ của cơ quan có thẩm quyền xác nhận về số thành viên của hộ gia đình (nhân khẩu) tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ, nhận chuyển QSDĐ. Căn cứ quy định này, nhiều tổ chức hành nghề công chứng yêu cầu các bên cung cấp văn bản thỏa thuận xác định người có chung QSDĐ và phạm vi tham gia giao dịch. Vậy, nếu pháp luật không hướng dẫn rõ hình thức, nội dung và giá trị chứng minh của văn bản thỏa thuận thì việc áp dụng trên thực tế sẽ thiếu thống nhất. Có nơi có thể chỉ yêu cầu văn bản thỏa thuận của các bên; có nơi yêu cầu văn bản thỏa thuận có công chứng, chứng thực; có nơi lại yêu cầu thêm tài liệu cư trú, hộ tịch hoặc xác nhận của địa phương. Thứ hai, vướng mắc trong vấn đề cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho hộ gia đình và các thành viên trong hộ gia đình Ngoài khó khăn trong việc xác định thành viên hộ gia đình sử dụng đất, Luật Đất đai năm 2024 còn đặt ra vấn đề về cơ chế ghi nhận các thành viên có chung QSDĐ trên Giấy chứng nhận. Theo khoản 4 Điều 256 Luật Đất đai năm 2024, trường hợp Giấy chứng nhận đã cấp cho đại diện hộ gia đình trước ngày Luật này có hiệu lực thì các thành viên có chung QSDĐ của hộ gia đình, nếu có nhu cầu, được cấp đổi Giấy chứng nhận để ghi đầy đủ tên các thành viên có chung QSDĐ; việc xác định các thành viên có chung QSDĐ để ghi tên trên Giấy chứng nhận do các thành viên tự thỏa thuận và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Quy định này tiếp tục được cụ thể hóa tại điểm g khoản 1 Điều 38 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và Hệ thống thông tin đất đai. Theo đó, Giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp ghi tên hộ gia đình, nay các thành viên có chung QSDĐ của hộ gia đình đó có yêu cầu cấp đổi để ghi đầy đủ tên thành viên có chung QSDĐ thì thuộc trường hợp được cấp đổi Giấy chứng nhận. Khoản 2 và khoản 3 Điều 38 Nghị định này cũng quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận. Bên cạnh đó, Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT quy định về hồ sơ địa chính, Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hướng dẫn cách thể hiện thông tin người sử dụng đất trên Giấy chứng nhận QSDĐ. Theo khoản 6 Điều 32 Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT, trường hợp cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho các thành viên có chung QSDĐ của hộ gia đình đang sử dụng đất thì ghi đầy đủ thông tin các thành viên. Trường hợp không ghi hết thông tin các thành viên trên Giấy chứng nhận QSDĐ thì ghi thông tin một hoặc một số thành viên và ghi tiếp “và các thành viên khác có chung QSDĐ của hộ được thể hiện tại mã QR”. Nếu các thành viên có thỏa thuận ghi tên đại diện hộ gia đình trên Giấy chứng nhận thì ghi thông tin người đại diện kèm nội dung người đó “là đại diện cho các thành viên có chung QSDĐ của hộ gia đình”. Như vậy, hệ thống quy định hiện hành đã thể hiện khá rõ định hướng xử lý: không buộc phải cấp đổi đồng loạt tất cả Giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho hộ gia đình, nhưng mở cơ chế cấp đổi khi có nhu cầu để ghi nhận cụ thể các thành viên có chung QSDĐ; đồng thời cho phép trường hợp ghi tên đại diện nhưng thông tin về các thành viên có chung quyền vẫn phải được thể hiện thông qua mã QR hoặc hồ sơ liên quan. Đây là bước chuyển từ cách ghi nhận “hộ gia đình” như một chủ thể chung sang hướng cá thể hóa các cá nhân có quyền đối với thửa đất. Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn, cơ chế này vẫn còn một số điểm cần tiếp tục làm rõ. Một là, về hình thức và giá trị pháp lý của thỏa thuận giữa các thành viên. Luật Đất đai năm 2024 quy định việc xác định các thành viên có chung QSDĐ do các thành viên tự thỏa thuận và chịu trách nhiệm trước pháp luật; Thông tư số 10/2024/ TT-BTNMT Quy định về hồ sơ địa chính, Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cũng nhắc đến trường hợp có “văn bản thỏa thuận” khi ghi tên người đại diện trên Giấy chứng nhận QSDĐ. Tuy nhiên, các văn bản hiện hành chưa quy định thật cụ thể thỏa thuận này phải được lập theo hình thức nào, có bắt buộc công chứng, chứng thực hay không, nội dung tối thiểu cần có những gì và giá trị pháp lý của thỏa thuận được xác định ra sao khi phát sinh tranh chấp. Vì vậy, nếu không có hướng dẫn thống nhất, cơ quan đăng ký đất đai có thể lúng túng khi tiếp nhận hồ sơ cấp đổi, còn cách áp dụng giữa các địa phương có thể không thống nhất. Hai là, về cách xử lý khi các thành viên không đạt được thỏa thuận. Cơ chế tự thỏa thuận chỉ thuận lợi khi các thành viên thống nhất được với nhau về danh sách người có chung QSDĐ và cách ghi tên trên Giấy chứng nhận QSDĐ. Trên thực tế, việc cấp đổi có thể gặp khó khăn nếu có thành viên không hợp tác, mất liên lạc, đang ở nước ngoài, đã chết nhưng chưa giải quyết thừa kế hoặc có tranh chấp về tư cách thành viên có chung QSDĐ. Trong các trường hợp này, cơ quan đăng ký đất đai khó có thể tự xác định thay quyền của các bên. Do đó, pháp luật cần có cơ chế phân luồng rõ: trường hợp không có tranh chấp thì thực hiện cấp đổi theo thỏa thuận; trường hợp có tranh chấp hoặc không thống nhất thì phải giải quyết thông qua thủ tục thừa kế, phân chia tài sản chung hoặc tố tụng dân sự trước khi cấp đổi hoặc chuyển nhượng toàn bộ QSDĐ. Ba là, về hệ quả pháp lý của việc ghi tên đại diện trên Giấy chứng nhận. Việc Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT cho phép ghi tên người đại diện không đồng nghĩa với việc người đại diện có toàn quyền định đoạt QSDĐ. Nếu những người khác vẫn là thành viên có chung QSDĐ thì việc không trực tiếp ghi tên họ trên Giấy chứng nhận QSDĐ không làm mất quyền của họ, nhất là khi thông tin về họ được thể hiện trong mã QR hoặc hồ sơ địa chính. Vì vậy, khi chuyển nhượng QSDĐ nông nghiệp có nguồn gốc cấp cho hộ gia đình, người đại diện chỉ có thể ký kết hợp đồng nếu có sự đồng ý hoặc ủy quyền hợp lệ của các thành viên có chung quyền. Nếu không làm rõ điểm này, việc ghi tên đại diện trên Giấy chứng nhận có thể tiếp tục tạo ra nhầm lẫn giữa “người đứng tên” và “người có quyền định đoạt”.

3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xác định thành viên hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất nông nghiệp

Từ những vướng mắc nêu trên có thể thấy, Luật Đất đai năm 2024 tuy đã thay đổi cách tiếp cận đối với hộ gia đình sử dụng đất, nhưng vẫn còn để ngỏ một số vấn đề trong việc xác định các thành viên có chung QSDĐ nông nghiệp đã được xác lập dưới danh nghĩa hộ gia đình trước đây. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xác định thành viên hộ gia đình có chung QSDĐ nông nghiệp như sau: Một là, cần nghiên cứu sửa đổi khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 theo hướng bỏ tiêu chí “đang sống chung” khi xác định thành viên hộ gia đình sử dụng đất. Tiêu chí này trong thực tiễn dễ bị đồng nhất với hộ khẩu, dữ liệu cư trú hoặc tình trạng sinh sống thực tế tại thời điểm phát sinh giao dịch, trong khi các yếu tố này có thể biến động qua thời gian và không phản ánh trực tiếp quyền tài sản đối với QSDĐ. Thay vào đó, pháp luật chỉ nên quy định việc cá nhân có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và được xác định là có chung QSDĐ trong hồ sơ giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ, hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận hoặc hồ sơ nhận chuyển QSDĐ trước ngày Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực. Theo hướng này, khoản 25 Điều 3 có thể được sửa đổi như sau: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và có QSDĐ chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ, nhận chuyển QSDĐ trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành”. Hai là, cần có hướng dẫn cụ thể về hình thức và nội dung của văn bản thỏa thuận giữa các thành viên có chung QSDĐ nông nghiệp. Theo đó, cần quy định cụ thể thỏa thuận phải được lập thành văn bản, có chữ ký của đầy đủ thành viên có chung QSDĐ hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Trường hợp văn bản thỏa thuận được sử dụng làm căn cứ ghi tên người đại diện trên Giấy chứng nhận QSDĐ hoặc phục vụ giao dịch chuyển quyền QSDĐ thì phải công chứng hoặc chứng thực để bảo đảm giá trị chứng minh. Văn bản này cần thể hiện các nội dung cần thiết như: thông tin định danh của từng thành viên; căn cứ xác định có chung QSDĐ; thông tin thửa đất; lựa chọn ghi đầy đủ tên thành viên hay ghi tên người đại diện; phạm vi đại diện nếu có; cam kết về tính đầy đủ, chính xác của danh sách thành viên có chung QSDĐ; và trách nhiệm của các bên nếu kê khai không đúng. Ba là, cần bổ sung cơ chế xử lý khi các thành viên không đạt được thỏa thuận hoặc hồ sơ có dấu hiệu tranh chấp. Cơ chế tự thỏa thuận chỉ được thực hiện thuận lợi khi các thành viên thống nhất được danh sách người có chung QSDĐ, cách ghi tên trên Giấy chứng nhận và phạm vi đại diện nếu có. Trường hợp có thành viên không hợp tác, cư trú ở nước ngoài, đã chết nhưng chưa xử lý thừa kế, hoặc phát sinh tranh chấp về tư cách thành viên có chung QSDĐ thì cơ quan đăng ký đất đai không thể tự xác định thay phần quyền của các bên. Do đó, cần hướng dẫn rõ hướng xử lý theo từng trường hợp: nếu hồ sơ thống nhất, không có tranh chấp thì thực hiện cấp đổi theo thỏa thuận; nếu có thành viên đã chết thì phải hoàn thiện thủ tục khai nhận, phân chia di sản hoặc có sự tham gia hợp lệ của người thừa kế; nếu có thành viên vắng mặt hoặc cư trú ở nước ngoài thì phải có văn bản ủy quyền hợp lệ theo quy định; nếu có tranh chấp về danh sách thành viên, vụ việc có thể được chuyển đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất để tiến hành xác minh và tổ chức hòa giải. Nếu hòa giải không thành, các thành viên có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu xác định phần QSDĐ của từng cá nhân. Quyết định hoặc bản án có hiệu lực của Tòa án sẽ là căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước thực hiện việc cấp đổi Giấy chứng nhận QSDĐ hoặc giải quyết các thủ tục liên quan, qua đó bảo đảm quyền định đoạt tài sản của các thành viên.

Kết luận: Luật Đất đai năm 2024 đã thay đổi cách tiếp cận đối với hộ gia đình sử dụng đất theo hướng không còn ghi nhận hộ gia đình là chủ thể sử dụng đất độc lập, mà tập trung vào việc xác định các thành viên có chung QSDĐ đã được xác lập trước đây. Đây là hướng sửa đổi phù hợp, nhưng trong thực tiễn vẫn còn nhiều vướng mắc do căn cứ xác định thành viên chưa thật rõ, hồ sơ đất đai cũ không đầy đủ, dữ liệu cư trú chỉ có giá trị hỗ trợ và văn bản thỏa thuận của các thành viên chưa được hướng dẫn thống nhất. Vì vậy, pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng làm rõ căn cứ, quy trình và giá trị chứng minh của các tài liệu dùng để xác định thành viên hộ gia đình có chung QSDĐ nông nghiệp. Việc xác định đúng các thành viên này là cơ sở quan trọng để bảo đảm quyền lợi của người sử dụng đất, hạn chế tranh chấp và tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật đất đai sau Luật Đất đai năm 2024./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quốc hội (2024), Luật Công chứng số 46/2024/QH15 ngày 26/11/2024.

2. Bế Văn Niệm (2024), Quy định về hộ gia đình sử dụng đất theo Luật Đất đai 2024 và một số lưu ý khi áp dụng, Tạp chí Công Thương, https://tapchicongthuong.vn/quy-dinh-ve-ho-gia dinh-su-dung-dat-theo-luat-dat-dai-2024-va-mot- so-luu-y-khi-ap-dung-131784.htm, truy cập ngày 20/4/2026.

3. Đỗ Thanh Nhân (2024), Hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân, Tạp chí Công Thương, https://tapchicongthuong.vn/hoan-thien phap-luat-ve-chuyen-nhuong-quyen-su-dung-dat nong-nghiep-cua-ho-gia-dinh--ca-nhan-116244. htm, truy cập ngày 15/5/2026.

4. Lê Minh Thái (2022), Hoàn thiện pháp luật về xác định hộ gia đình sử dụng đất và điều kiện cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình sử dụng đất. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 10 (367), tr. 10 - 16.

Đào Thị Sao

Bài liên quan

Tin bài khác

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI 
VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

Tóm tắt: Việc ban hành Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã ghi nhận một bước tiến quan trọng trong việc cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lao động và an sinh xã hội ở Việt Nam. Bài viết phân tích những điểm mới của Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Đồng thời đưa ra một số tác động của những quy định này đến thị trường nhân lực lao động Việt Nam, hướng đến nguồn nhân lực phát triển bền vững, thích ứng với yêu cầu của thời đại chuyển đổi số và quá trình hội nhập quốc tế. Từ khóa: Luật Việc làm; Luật Bảo hiểm xã hội; Thị trường lao động; An sinh xã hội; nguồn nhân lực. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 
CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế nền tảng đã làm gia tăng mạnh mẽ lực lượng người lao động (NLĐ) cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số tại Việt Nam. Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong thị trường lao động và nền kinh tế đô thị, nhóm lao động này đang đối mặt với tình trạng thu nhập thiếu ổn định, phụ thuộc lớn vào thuật toán và cơ chế chia sẻ doanh thu do doanh nghiệp nền tảng đơn phương quyết định, trong khi chưa được bảo vệ đầy đủ bởi pháp luật lao động và an sinh xã hội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về bảo đảm thu nhập trong bối cảnh lao động nền tảng, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến lao động, bảo hiểm xã hội (BHXH) và pháp luật chuyên ngành về vận tải - nền tảng số, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý hiện nay. Trên cơ sở tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thu nhập ổn định, công bằng và bền vững cho NLĐ nền tảng. Từ khóa: Người lao động nền tảng; bảo đảm thu nhập; kinh tế nền tảng; pháp luật lao động; an sinh xã hội. Nhận bài: 20/11/2025 Hoàn thành biên tập: 20/12/2025 Duyệt đăng: 16/7/2026
BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC 
CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

Tóm tắt: Sự bùng nổ của nền kinh tế số làm xuất hiện Hợp đồng lao động điện tử (HĐLĐĐT), đặt ra thách thức lớn về sự giao thoa phức tạp giữa việc bảo vệ người lao động và rào cản kỹ thuật khắt khe của Luật Giao dịch điện tử. Bài viết nhằm bóc tách bản chất pháp lý, hệ thống hóa các điều kiện phát sinh hiệu lực của HĐLĐĐT và hậu quả pháp lý khi có tranh chấp. Qua nghiên cứu so sánh và phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam, tác giả kiến nghị áp dụng mô hình đánh giá theo phân tầng rủi ro và minh bạch trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Từ khoá: Giao dịch điện tử; hợp đồng lao động điện tử; hiệu lực; vô hiệu hợp đồng. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
ĐỐI VỚI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Tóm tắt: Bài viết phân tích điều kiện công nhận quyền sử dụng đất đối với đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo Điều 138 Luật Đất đai (LĐĐ) năm 2024, gồm các điều kiện về sử dụng đất ổn định, lâu dài, không vi phạm pháp luật đất đai và không có tranh chấp. Trên cơ sở làm rõ nền tảng lý luận và nhận diện những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, bài viết đề xuất các giải pháp pháp lý khả thi nhằm bảo đảm vai trò kép của Nhà nước vừa kiến tạo vừa điều tiết, dung hòa lợi ích công và lợi ích tư, qua đó nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật và thúc đẩy môi trường pháp lý bền vững về quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay. Từ khóa: Quyền sử dụng đất; đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất; Luật Đất đai năm 2024. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ 
HỖ TRỢ SINH SẢN TRONG HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ SINH SẢN TRONG HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI

Tóm tắt: Tại Việt Nam hiện nay, các cặp đôi đồng giới đang ngày càng hiện diện công khai và gia tăng về số lượng. Nhu cầu được bảo đảm các quyền về hôn nhân gia đình của nhóm chủ thể này là một thực tế. Về bản chất sinh học, nhóm đối tượng này hầu như không có khả năng sinh con theo phương thức truyền thống, do đó, công nghệ hỗ trợ sinh sản đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa quyền làm cha, mẹ của họ. Trên cơ sở phân tích thực tiễn pháp luật tại một số quốc gia đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới và đối chiếu với pháp luật Việt Nam, bài nghiên cứu làm rõ những bất cập, khoảng trống pháp lý trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công nghệ hỗ trợ sinh sản cho các cặp đôi đồng giới. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cặp đôi đồng giới thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ hỗ trợ sinh sản, phù hợp với xu hướng bảo vệ quyền con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Từ khóa: Công nghệ hỗ trợ sinh sản; cặp đôi đồng giới; hôn nhân đồng giới; pháp luật. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
LUẬN BÀN MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN 
VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN BÀN MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực y học sinh sản, đã tạo điều kiện mở rộng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam, góp phần bảo đảm quyền làm cha, làm mẹ và quyền sinh sản của cá nhân. Tuy nhiên, trước những thành tựu mới của công nghệ sinh học và yêu cầu ngày càng cao về bảo đảm quyền con người, các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa theo kịp thực tiễn. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành, bài viết tập trung làm rõ những bất cập trong điều kiện áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đồng thời đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này. Từ khóa: Sinh con; công nghệ hỗ trợ sinh sản; kỷ nguyên mới; quyền con người; Luật Hôn nhân và gia đình. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TIỀN KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM -  
NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TIỀN KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM - NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

Tóm tắt: Tiền kỹ thuật số dựa trên công nghệ blockchain đang trở thành một xu hướng nổi bật trong nền kinh tế số với nhiều ưu điểm như tốc độ giao dịch cao, chi phí thấp, khả năng thanh toán xuyên biên giới và thúc đẩy các mô hình kinh doanh mới. Sự phát triển của loại tài sản này góp phần quan trọng vào quá trình chuyển đổi số và mở rộng hệ sinh thái tài chính, công nghệ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý điều chỉnh tiền kỹ thuật số vẫn chưa được xây dựng đầy đủ và thống nhất, dẫn đến nhiều khó khăn trong quản lý, kiểm soát rủi ro, cũng như bảo đảm an toàn cho các giao dịch tài chính. Trên cơ sở phân tích đặc điểm, ưu điểm và hạn chế của tiền kỹ thuật số, bài viết đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến việc quản lý và sử dụng loại tài sản này, chỉ ra những bất cập trong việc xác định địa vị pháp lý, cơ chế quản lý và sự thiếu đồng bộ giữa các quy định pháp luật có liên quan. Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý theo hướng minh bạch, thống nhất và phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế số, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm an toàn pháp lý trong thời gian tới. Từ khóa: Tiền kỹ thuật số; blockchain; tài sản số; quản lý nhà nước; thanh toán không dùng tiền mặt; chuyển đổi số; khung pháp lý. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI VỀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT

MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI VỀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT

Tóm tắt: Quan hệ pháp luật là một vấn đề pháp lý hết sức cơ bản, được quan tâm cả trong lý luận cũng như thực tiễn của đời sống. Sự ổn định trong quan niệm, cách tiếp cận về quan hệ pháp luật trên thực tế từ trước tới nay cho thấy có vẻ như nó đã đạt được đến độ chuẩn mực và không cần phải nhìn nhận lại hay có cách tiếp cận mới. Tuy nhiên, đời sống pháp lý hiện nay đã có sự thay đổi từ yêu cầu nhận thức cho đến vận dụng lý luận về quan hệ pháp luật vào các hoạt động thực tiễn đòi hỏi có sự tiếp cận mới toàn diện và chuẩn xác hơn. Bài viết hướng tới việc phân tích, đánh giá để nhận thức đầy đủ, rõ ràng hơn từ cách tiếp cận mới đối với một số vấn đề có liên quan đến quan hệ pháp luật nhằm phục vụ cho sự phát triển của khoa học pháp lý cũng như thực tiễn của đời sống pháp luật. Từ khóa: Quan hệ pháp luật; chủ thể quan hệ pháp luật; khách thể quan hệ pháp luật; sự kiện pháp lý. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN CẤU TRÚC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG  
KỶ NGUYÊN MỚI - TỪ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC ĐẾN THỰC TIỄN LẬP PHÁP

HOÀN THIỆN CẤU TRÚC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI - TỪ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC ĐẾN THỰC TIỄN LẬP PHÁP

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự bùng nổ của kỷ nguyên số, việc tái cấu trúc hệ thống pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực quốc gia. Bài viết tập trung phân tích những giá trị cốt lõi của Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị, đánh giá thực trạng cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay với những điểm nghẽn về tư duy và kỹ thuật lập pháp. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất nhóm giải pháp mang tính đột phá nhằm hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, đảm bảo tính kiến tạo và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Từ khóa: Cấu trúc hệ thống; pháp luật kiến tạo; kỷ nguyên mới; Kết luận 09-KL/TW. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
Chào mừng Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6

Chào mừng Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6

Dự các Hội nghị có GS.TS. Phạm Hồng Thái - Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành luật học; TS. Nguyễn Quang Vinh - Tổng biên tập Tạp chí Quản lý nhà nước; đồng chí Tạ Thành Trung - Phó Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin Bộ Tư pháp; PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa - Đại biểu Quốc hội chuyên trách khóa XIV; TS. Hoàng Thị Lan - Phó Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; TS. Lê Thị Hoa - Phó Tổng biên tập Tạp chí Quản lý nhà nước; đồng chí Nguyễn Duy Lãm - Chủ tịch Hiệp hội pháp chế doanh nghiệp Việt Nam; TS. Trần Vũ Hải - Trưởng Phòng Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Luật Hà Nội; TS. Lê Tiến Hưng, Giảng viên Học viện Kỹ thuật quân sự.
cong-tu-phap
bo-tu-phap
trien-khai-thi-hanh
SỐ RA MỚI NHẤT

Trong số này:

CẢI CÁCH TƯ PHÁP
• BẢO ĐẢM VAI TRÒ NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lưu Thị Ngọc Lan
1
• TƯ DUY, NHẬN THỨC MỚI VỀ CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO NGHIÊN CỨU, GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI
Võ Khánh Vinh, Võ Khánh Minh
7
• QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TƯ DUY XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trần Thị Quyên
19

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
• NƠI CƯ TRÚ, LÀM VIỆC CỦA BỊ ĐƠN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Nguyễn Chí Hiếu
24
• LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG XẢY RA DO SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG
Nguyễn Tống Bảo Minh
31
• MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG CHỨNG ĐIỆN TỬ THEO LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2024
Nguyễn Văn Mích, Lại Thị Bích Ngà
37
• QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH VÀ KINH DOANH ONLINE, THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG CẢI CÁCH THEO CƠ CHẾ DỮ LIỆU VÀ DÒNG TIỀN
Cao Tấn Nho
43
• TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Nguyễn Mai Anh
48
• QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Hà Trọng Bắc, Nguyễn Trung Dương
54
• MẪU HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Nguyễn Mai Linh
60

• THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Đặng Tiến Đông, Tô Quang Anh
67

ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG
• CHUẨN HÓA TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN HÀNH NGHỀ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ QUẢN TÀI VIÊN - YẾU TỐ THEN CHỐT THỰC THI HIỆU QUẢ THỦ TỤC PHỤC HỒI VÀ PHÁ SẢN
Bùi Thị Hà
75
PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
• MÔ HÌNH GIÁO DỤC THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TẠI ÚC - KINH NGHIỆM CHO ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT TẠI VIỆT NAM
Đào Lệ Thu, Phạm Tiến Thành
81
• MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN THÁC TÀI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC Ở HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Châu Loan
89
• MÔ HÌNH PHÂN BỔ QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguyễn Hoài Thu
96
• XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI TỐ CÁO HỢP PHÁP - BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ ÚC VÀ HOA KỲ
Trần Vang Phủ, Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi
103
• HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI RỬA TIỀN TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT HOA KỲ
Đỗ Khánh Linh, Nguyễn Huệ Linh
109
• XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIỚI BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ - KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nguyễn Hà Chi, Nguyễn Minh Phương, Đỗ Phương Linh
115