HÔM NAY: Thứ năm 06/08/2026 14:38
HOTLINE: (024) 62873428 (1011-1036).

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG ĐIỀU KIỆN TỔ CHỨC MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP

Tóm tắt: Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 và sự hình thành siêu đô thị sau sáp nhập, việc hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích thực trạng thiếu tương thích giữa thẩm quyền đặc thù được mở rộng với năng lực thực thi và nguồn lực của bộ máy hiện hành khi không còn cấp trung gian. Từ đó, tác giả đề định hướng hoàn thiện tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt về tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh. Từ khóa: Chính quyền đô thị; phân cấp; chính quyền địa phương hai cấp; tổ chức bộ máy; Thành phố Hồ Chí Minh. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026

REFINING THE URBAN GOVERNMENT STRUCTURE IN HO CHI MINH CITY WITHIN THE CONTEXT OF A TWO-TIER LOCAL GOVERNMENT MODEL

Abstract: In the context of the implementation of the two-tier local government system from 1 July 2025 and the emergence of a megacity following administrative consolidation, improving the urban government model in Ho Chi Minh City has become an urgent requirement. The article analyzes the mismatch between expanded specific authorities and the implementation capacity and resources of the current administrative apparatus in the absence of an intermediate tier. From there, the author outlines orientations for perfecting Ho Chi Minh City’s urban government organization and proposes recommendations for the Draft Law on Special Cities regarding the city’s urban government organization. Keywords: Urban government; decentralization; two-tier local government system; governmental organization; Ho Chi Minh City. Date of receipt: 20/4/2026 Date of revision: 10/6/2026 Date of approval: 16/7/2026

Đặt vấn đề: Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước tại các đô thị lớn. Mặc dù phạm vi thẩm quyền của chính quyền Thành phố được mở rộng đáng kể thông qua các cơ chế, chính sách đặc thù, thực tiễn vận hành cho thấy sự thiếu tương thích giữa năng lực tổ chức bộ máy, cơ chế điều hành với yêu cầu quản trị một siêu đô thị đa trung tâm, quy mô lớn. Tình trạng mất cân đối giữa thẩm quyền quản lý được giao và năng lực thực thi thực tế đang trở thành điểm nghẽn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả quản trị đô thị. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và hệ thống hóa các quy định của pháp luật kết hợp với phân tích thực tiễn tổ chức, hoạt động của chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá những vấn đề đặt ra trong tổ chức và vận hành chính quyền đô thị, đồng thời đối chiếu với định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt để đề xuất các kiến nghị hoàn thiện dự án luật này.

1. Thực trạng và những vấn đề đặt ra với chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp

1.1. Quản trị siêu đô thị sau sáp nhập

Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 trên cơ sở sáp nhập với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành siêu đô thị có diện tích khoảng 6.772,59 km² (tăng hơn ba lần so với trước đây) và dân số trên 14 triệu người (là địa phương duy nhất cả nước có quy mô dân số vượt 10 triệu dân). Mật độ dân số trung bình đạt khoảng 2.067 người/km² (cao gấp gần 6,5 lần mức trung bình toàn quốc). Sau sắp xếp, Thành phố được tổ chức thành 168 đơn vị hành chính cấp cơ sở gồm 113 phường, 54 xã và 01 đặc khu Côn Đảo2. Việc mở rộng mạnh về quy mô không gian, dân số và số lượng đơn vị hành chính đã tạo ra yêu cầu mới đối với phương thức quản trị của chính quyền đô thị, vượt xa mô hình quản lý áp dụng đối với các địa phương thông thường. Trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều nhiệm vụ trước đây do cấp huyện thực hiện được chuyển trực tiếp lên cấp thành phố hoặc xuống cấp cơ sở. Chính quyền thành phố phải trực tiếp chỉ đạo, điều hành toàn bộ các đơn vị hành chính cấp cơ sở, trong khi cấp cơ sở phải đảm nhận khối lượng công việc lớn hơn về quản lý dân cư, trật tự đô thị, môi trường, hạ tầng kỹ thuật và cung ứng dịch vụ công. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải nâng cao năng lực điều hành tập trung, tăng cường phối hợp liên thông và đổi mới phương thức quản trị để đáp ứng yêu cầu của một siêu đô thị có tốc độ đô thị hóa cao và mức độ liên kết kinh tế - xã hội ngày càng lớn. Hiện nay, cơ chế vận hành của chính quyền thành phố vẫn chủ yếu dựa trên mô hình quản lý hành chính truyền thống theo ngành, lĩnh vực và địa giới hành chính. Trong khi Thành phố Hồ Chí Minh đang phát triển theo hướng đô thị đa trung tâm với sự hình thành các cực tăng trưởng mới, phương thức quản trị hiện hành vẫn thiếu cơ chế điều phối liên không gian và nền tảng dữ liệu quản trị thống nhất, dẫn đến nguy cơ quá tải ở cấp thành phố, lúng túng trong phối hợp ở cấp cơ sở và ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý các vấn đề liên ngành, liên vùng. Đặc biệt, sau sáp nhập, việc tích hợp các cơ sở dữ liệu về dân cư, đất đai, quy hoạch, doanh nghiệp và dịch vụ công của ba địa phương với các nền tảng công nghệ và tiêu chuẩn quản lý khác nhau đang đặt ra thách thức lớn đối với việc xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung và điều hành thống nhất. Đây là một trong những vấn đề nổi bật cần được giải quyết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị siêu đô thị trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

1.2. Thực hiện cơ chế đặc thù và năng lực thực thi của bộ máy chính quyền đô thị

Việc thực hiện Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 260/2025/QH15 đã mở rộng đáng kể thẩm quyền của Thành phố Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực đầu tư, tài chính - ngân sách, quy hoạch, phát triển đô thị và quản lý hạ tầng. Với quy mô GRDP chiếm khoảng 23,5% GDP cả nước, tổng thu ngân sách năm 2025 đạt 746.438 tỷ đồng và tốc độ tăng trưởng GRDP quý I/2026 đạt 8,27%3. Thành phố tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy việc mở rộng thẩm quyền chưa thực sự đi đôi với các điều kiện bảo đảm thực hiện. Mặc dù được trao thêm quyền chủ động về đầu tư và phát triển hạ tầng, song Thành phố Hồ Chí Minh vẫn gặp khó khăn trong bảo đảm nguồn lực khi tỷ lệ điều tiết ngân sách, trong khi nhu cầu đầu tư cho hệ thống metro, chống ùn tắc và chống ngập là rất lớn. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền gắn với bảo đảm nguồn lực tài chính tương xứng. Bên cạnh đó, nhiều cơ chế đặc thù vẫn gặp khó khăn trong quá trình triển khai do chịu sự điều chỉnh của các luật chuyên ngành và các quy trình, thủ tục trung gian. Đến cuối năm 2025, vẫn còn 06/44 cơ chế, chính sách đặc thù đang trong quá trình hoàn thiện văn bản triển khai4. Trong lĩnh vực quy hoạch và phát triển đô thị, cơ chế quản trị vẫn chủ yếu vận hành theo ngành và địa giới hành chính, trong khi các vấn đề về giao thông, môi trường, logistics, dân cư và hạ tầng số ngày càng mang tính liên vùng, liên không gian, đòi hỏi năng lực điều phối tổng thể trên phạm vi toàn đô thị. Thực trạng này cho thấy cơ chế phân cấp, phân quyền và tổ chức thực hiện chưa theo kịp yêu cầu quản trị của một siêu đô thị. Ngoài ra, tâm lý e ngại trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, công chức cho thấy việc mở rộng thẩm quyền chưa thực sự đi kèm các cơ chế bảo đảm thực thi và hậu kiểm hiệu quả. Đây là một trong những vấn đề đặt ra cần tiếp tục hoàn thiện nhằm thu hẹp khoảng cách giữa thẩm quyền được giao và năng lực thực thi của bộ máy chính quyền đô thị, bảo đảm các cơ chế đặc thù thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn.

1.3. Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tạo ra những thay đổi lớn trong tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực của Thành phố Hồ Chí Minh. Thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy, sau sắp xếp, số lượng cơ quan chuyên môn thuộc UBND Thành phố đã giảm từ 22 xuống còn 16 cơ quan. Tuy nhiên, quá trình hợp nhất cũng hình thành các cơ quan có quy mô rất lớn, như: Sở Xây dựng sau hợp nhất có khoảng 3.409 nhân sự và 23 phòng chuyên môn5, làm gia tăng yêu cầu về quản trị nội bộ, điều hành và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ. Ở cấp cơ sở, sau khi không còn cấp huyện, nhiều nhiệm vụ được chuyển trực tiếp xuống cấp xã; hiện chính quyền cấp xã phải đảm nhận khoảng 1.065 nhiệm vụ. Khối lượng công việc tăng lên đáng kể trong khi đội ngũ cán bộ, công chức ở nhiều nơi còn mỏng, điều kiện làm việc và hạ tầng số chưa đáp ứng yêu cầu mới. Bên cạnh đó, quá trình sắp xếp bộ máy cũng đặt ra yêu cầu giải quyết chế độ đối với cán bộ, công chức dôi dư. Sau khi sắp xếp, Thành phố đã giải quyết nghỉ hưu trước tuổi và thôi việc đối với 6.332 trường hợp, trong đó khối chính quyền là 5.275 người, với tổng kinh phí hơn 6.094 tỷ đồng6. Thực trạng này đặt ra yêu cầu vừa bảo đảm ổn định tổ chức bộ máy, vừa duy trì tính liên tục và hiệu quả hoạt động của nền hành chính đô thị. Bên cạnh đó, cơ chế quản lý nhân sự hiện nay vẫn chủ yếu áp dụng theo khung chung đối với các địa phương, trong khi Thành phố Hồ Chí Minh cần đội ngũ nhân lực có chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu quản trị của một siêu đô thị. Việc chưa có đầy đủ quyền chủ động về biên chế, vị trí việc làm, chính sách tiền lương và thu hút nhân tài đang đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý nhân sự phù hợp với đặc điểm và yêu cầu phát triển của chính quyền đô thị trong giai đoạn mới.

2. Định hướng hoàn thiện tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp

2.1. Hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị hai cấp gắn với các vùng động lực phát triển

Để đáp ứng yêu cầu quản trị của siêu đô thị sau sáp nhập, mô hình chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh cần được hoàn thiện theo hướng tổ chức quản trị dựa trên không gian chức năng và các vùng động lực phát triển, bảo đảm thống nhất trong điều hành nhưng vẫn phát huy tính chủ động của cấp cơ sở. Theo đó: Thứ nhất, cần tổ chức Thành phố Hồ Chí Minh như một không gian phát triển thống nhất, trong đó hình thành các vùng động lực phát triển trên cơ sở lợi thế so sánh và chức năng của từng khu vực. Vùng trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ chất lượng cao và đổi mới sáng tạo; vùng Bình Dương là trung tâm công nghiệp, công nghệ và đô thị sản xuất; vùng Bà Rịa - Vũng Tàu là trung tâm cảng biển, logistics, năng lượng, du lịch biển và kinh tế biển; đặc khu Côn Đảo được định hướng phát triển gắn với bảo tồn, sinh thái và du lịch chất lượng cao. Việc xác định các vùng động lực nhằm tạo cơ sở cho tổ chức quản trị và điều phối phát triển trên phạm vi toàn đô thị. Thứ hai, cần hoàn thiện cơ chế điều phối thống nhất đối với các vùng động lực phát triển mà không hình thành thêm cấp hành chính trung gian hoặc làm thay đổi mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Theo đó, cấp thành phố tập trung thực hiện chức năng hoạch định chiến lược, điều phối liên ngành, phân bổ nguồn lực và kiểm soát kết quả phát triển; cấp cơ sở thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, cung ứng dịch vụ công và giải quyết các vấn đề dân sinh trên địa bàn. Đối với các lĩnh vực có tính liên không gian như giao thông, chống ngập, môi trường, logistics, hạ tầng số và dịch vụ công quy mô lớn, cần thiết lập cơ chế điều phối tập trung ở cấp thành phố nhằm bảo đảm quản trị thống nhất trên phạm vi toàn đô thị. Thứ ba, cần hoàn thiện hạ tầng quản trị số thông qua xây dựng trung tâm điều hành đô thị thống nhất trên nền tảng dữ liệu số liên thông. Trung tâm này không chỉ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành mà còn hỗ trợ theo dõi, phân tích, dự báo và xử lý kịp thời các vấn đề liên ngành, liên vùng. Qua đó, từng bước chuyển từ phương thức điều hành chủ yếu dựa trên báo cáo hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu, nâng cao năng lực điều hành và hiệu quả quản trị của chính quyền đô thị.

2.2. Thiết lập cơ chế vận hành theo hướng đẩy mạnh phân quyền triệt để, tăng cường ủy quyền và kiểm soát thống nhất theo kết quả

Để bảo đảm sự điều hành thống nhất gắn với các vùng động lực phát triển có thể vận hành hiệu quả, yêu cầu đặt ra với chính quyền đô thị không chỉ là điều chỉnh cơ cấu tổ chức mà còn phải thiết lập một cơ chế vận hành mới phù hợp với yêu cầu xử lý công việc nhanh, trực tiếp và thống nhất trên phạm vi toàn đô thị. Khác với cơ chế quản lý hành chính hiện hành còn nặng về phân công theo ngành, lĩnh vực và xử lý qua nhiều tầng nấc trung gian, cần hoàn thiện cơ chế vận hành của mô hình theo hướng đẩy mạnh phân quyền triệt để đối với những nhiệm vụ cấp dưới có đủ điều kiện thực hiện, tăng cường ủy quyền trực tiếp trong quá trình chỉ đạo điều hành và duy trì sự kiểm soát thống nhất của cấp thành phố thông qua kết quả đầu ra. Theo đó: Thứ nhất, cần đẩy mạnh phân quyền triệt để giữa cấp thành phố và cấp cơ sở trên cơ sở phân định rõ những nhiệm vụ cấp nào trực tiếp xử lý hiệu quả hơn thì giao mạnh cho cấp đó thực hiện. Khi đó, cấp thành phố tập trung thực hiện các nhiệm vụ mang tính chiến lược, quyết định định hướng phát triển, điều phối liên ngành, liên vùng và phân bổ các nguồn lực lớn; trong khi cấp cơ sở được giao trực tiếp và đầy đủ hơn các nhiệm vụ gắn với quản lý địa bàn, trật tự đô thị, dân cư, môi trường, dịch vụ công và giải quyết thường xuyên các vấn đề dân sinh. Việc phân quyền không thực hiện theo hướng chia nhỏ từng thủ tục hành chính mà phải bảo đảm giao đủ phạm vi xử lý để cấp cơ sở có thể chủ động giải quyết công việc trong thẩm quyền được giao. Việc này sẽ khắc phục tình trạng thẩm quyền được mở rộng nhưng thực tế vẫn phải xin ý kiến hoặc chờ xử lý từ nhiều đầu mối như hiện nay. Thứ hai, cùng với việc đẩy mạnh phân quyền, cần tăng cường ủy quyền trực tiếp từ cấp thành phố xuống cấp cơ sở đối với các nhóm nhiệm vụ thường xuyên, có đầu ra rõ ràng. Thay vì giao từng đầu việc riêng lẻ, cần ủy quyền theo các gói nhiệm vụ tương đối hoàn chỉnh trong các lĩnh vực như quản lý trật tự đô thị, dân cư, môi trường, dịch vụ công và giải quyết các vấn đề dân sinh, kèm theo thẩm quyền, trách nhiệm, thời hạn giải quyết và nguồn lực bảo đảm. Đồng thời, cần mở rộng cơ chế ủy quyền trong nội bộ bộ máy hành chính theo hướng rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm; cho phép người đứng đầu ủy quyền trực tiếp cho công chức, viên chức chuyên môn xử lý một số công việc cụ thể. Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế bảo vệ cán bộ, công chức khi thực hiện đúng nhiệm vụ được phân quyền, ủy quyền nhằm khắc phục tâm lý e ngại trách nhiệm, tạo điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực thi công vụ. Tuy nhiên, phân quyền và ủy quyền không đồng nghĩa với phân tán quản lý mà phải đặt trong cơ chế kiểm soát thống nhất của cấp thành phố. Theo đó, cấp thành phố tập trung ban hành tiêu chuẩn, định hướng, kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện; người đứng đầu cấp cơ sở chịu trách nhiệm về chất lượng và hiệu quả giải quyết nhiệm vụ được giao. Trọng tâm kiểm soát cần chuyển từ tiền kiểm theo quy trình sang hậu kiểm theo kết quả đầu ra, qua đó vừa mở rộng quyền chủ động cho cấp thực thi, vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và sự thống nhất trong toàn hệ thống chính quyền đô thị. Thứ ba, để cơ chế vận hành này có thể thực hiện là phải đặt toàn bộ quá trình giao nhiệm vụ, theo dõi tiến độ, giám sát xử lý và đánh giá kết quả trên hệ thống dữ liệu dùng chung và nền tảng số liên thông từ cấp thành phố đến cấp cơ sở. Trong điều kiện Thành phố Hồ Chí Minh có số lượng đơn vị hành chính cơ sở lớn, khối lượng công việc phát sinh thường xuyên và yêu cầu phản ứng nhanh, nếu tiếp tục duy trì phương thức quản lý hành chính thủ công thì rất khó bảo đảm sự điều hành thống nhất. Vì vậy, việc xây dựng hệ thống thông tin quản lý liên thông theo thời gian thực không chỉ là công cụ hỗ trợ kỹ thuật mà là nền tảng để cấp thành phố thực hiện kiểm soát thống nhất, giúp cấp cơ sở xử lý công việc nhanh hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn.

2.3. Thiết lập cơ chế trao quyền tự quyết thực chất về tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính

Mô hình tổ chức và cơ chế vận hành nêu trên khó có thể triển khai hiệu quả nếu Thành phố Hồ Chí Minh vẫn vận hành trong khuôn khổ thể chế quản lý tương đối đồng đều như các địa phương khác hiện nay. Với đặc điểm là đô thị đặc biệt có quy mô dân số lớn, khối lượng công việc quản lý vượt trội và yêu cầu phản ứng chính sách nhanh, Thành phố cần được trao mức độ tự chủ cao hơn đối với các yếu tố cốt lõi của quản trị đô thị, gồm: thẩm quyền thể chế, tổ chức bộ máy và nguồn lực phát triển. Thứ nhất, tăng mức độ tự chủ về thể chế và thẩm quyền quản trị đô thị: Cần sớm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý ổn định cho mô hình chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh thay cho cơ chế thí điểm và phân cấp đơn lẻ hiện nay: cần nghiên cứu ban hành Luật áp dụng với các thành phố lớn trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh nhằm xác lập địa vị pháp lý đặc thù của siêu đô thị trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Đạo luật này cần cho phép Thành phố chủ động hơn trong phân định thẩm quyền nội bộ, điều hành phát triển đô thị, quản lý hạ tầng và tổ chức thực hiện các cơ chế phân quyền đặc thù và cần xác lập nguyên tắc ưu tiên áp dụng các quy định đặc thù của Thành phố trong trường hợp có khác biệt với luật chuyên ngành nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo và nâng cao hiệu quả thực thi. Thứ hai, tăng quyền tự chủ về tổ chức bộ máy và quản trị nhân sự: Thành phố Hồ Chí Minh cần được chủ động hơn trong tổ chức các cơ quan chuyên môn, xác định đầu mối quản lý phù hợp với yêu cầu điều hành theo các vùng động lực phát triển và mô hình quản trị đô thị đa trung tâm. Thành phố cần được chủ động quyết định biên chế, vị trí việc làm, tuyển dụng, sử dụng và điều động nhân sự theo yêu cầu thực tiễn quản trị đô thị hiện đại. Bên cạnh đó, cần cho phép Thành phố xây dựng cơ chế tiền lương, thu nhập và đãi ngộ phù hợp đối với các vị trí chuyên môn, quản lý có yêu cầu cao nhằm thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao cho bộ máy hành chính đô thị. Thứ ba, tăng quyền tự chủ về tài chính - ngân sách và huy động nguồn lực phát triển: Trong điều kiện cấp cơ sở được giao thêm nhiều nhiệm vụ quản lý trực tiếp, Thành phố Hồ Chí Minh cần có khả năng chủ động hơn trong phân bổ ngân sách nội bộ, quyết định ưu tiên chi và huy động nguồn lực đầu tư cho hạ tầng, chuyển đổi số và dịch vụ công. Thành phố cần mở rộng khả năng sử dụng linh hoạt các công cụ tài chính phục vụ phát triển đô thị và nâng cao chất lượng quản trị. Đồng thời, cần nghiên cứu điều chỉnh tỷ lệ điều tiết ngân sách cho Thành phố theo hướng cao hơn mức 21% hiện nay, phù hợp với quy mô dân số, phạm vi quản lý và nhu cầu đầu tư hạ tầng chiến lược của một siêu đô thị. Mức độ tự chủ tài chính này không chỉ đáp ứng nhu cầu đầu tư rất lớn của Thành phố mà còn tạo điều kiện vật chất để việc phân quyền và ủy quyền xuống cấp cơ sở được triển khai hiệu quả trên thực tế.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt về tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh

Các định hướng hoàn thiện nêu trên chỉ có thể được triển khai hiệu quả khi được thể chế hóa đầy đủ trong khuôn khổ pháp luật. Trong bối cảnh Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt đang được xây dựng, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định về tổ chức chính quyền đô thị có ý nghĩa quan trọng, không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho Thành phố Hồ Chí Minh mà còn góp phần hoàn thiện mô hình quản trị đối với các đô thị đặc biệt trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Trên cơ sở những vấn đề đặt ra từ thực tiễn và các định hướng hoàn thiện đã phân tích, tác giả kiến nghị tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện một số nội dung sau: Thứ nhất, hoàn thiện các quy định về mô hình tổ chức chính quyền đô thị. Dự thảo Luật cần quy định rõ hơn nguyên tắc tổ chức chính quyền đô thị theo hướng kết hợp giữa tổ chức theo đơn vị hành chính với quản trị theo không gian chức năng và các vùng động lực phát triển; đồng thời xác định rõ vai trò điều phối thống nhất của chính quyền thành phố đối với các vấn đề liên ngành, liên vùng và liên không gian, bảo đảm không làm phát sinh thêm cấp hành chính trung gian. Thứ hai, hoàn thiện cơ chế phân quyền, phân cấp, ủy quyền và kiểm soát quyền lực. Dự thảo Luật cần tiếp tục cụ thể hóa phạm vi phân quyền, điều kiện thực hiện ủy quyền, trách nhiệm giải trình và cơ chế hậu kiểm theo kết quả; đồng thời bổ sung cơ chế bảo vệ cán bộ, công chức khi thực hiện đúng thẩm quyền được giao nhằm tạo điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo và nâng cao hiệu quả thực thi công vụ. Thứ ba, hoàn thiện các quy định về quản trị đô thị trên nền tảng số. Cần bổ sung các quy định mang tính nguyên tắc về xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan trong toàn đô thị, tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành trung tâm điều hành đô thị thống nhất phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, giám sát và cung ứng dịch vụ công trên nền tảng số. Thứ tư, hoàn thiện cơ chế tự chủ của đô thị đặc biệt. Dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về quyền tự chủ của Thành phố Hồ Chí Minh trong tổ chức bộ máy, quản lý nhân sự và tài chính - ngân sách; đồng thời nghiên cứu cơ chế phân bổ nguồn lực và điều tiết ngân sách phù hợp với quy mô dân số, phạm vi quản lý và nhu cầu đầu tư của một siêu đô thị, bảo đảm các cơ chế phân quyền, phân cấp và ủy quyền có đủ điều kiện để triển khai hiệu quả trong thực tiễn.

Kết luận: Việc hoàn thiện tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và quản trị một siêu đô thị sau sáp nhập đã trở thành yêu cầu cấp thiết, mang tính sống còn đối với sự phát triển của Thành phố. Thực tiễn cho thấy, để giải quyết tình trạng mất cân đối giữa thẩm quyền đặc thù được giao và năng lực thực thi hiện tại, Thành phố cần một bước chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang phương thức quản trị hiện đại, dựa trên không gian chức năng và các vùng động lực phát triển. Chìa khóa cho sự thành công này nằm ở việc đẩy mạnh phân quyền triệt để, tăng cường ủy quyền trực tiếp gắn với cơ chế hậu kiểm dựa trên kết quả và nền tảng dữ liệu số liên thông. Đồng thời, để các cơ chế đặc thù thực sự phát huy hiệu quả, Thành phố Hồ Chí Minh cần được trao quyền tự chủ thực chất hơn về tổ chức bộ máy, biên chế và đặc biệt là nguồn lực tài chính tương xứng với quy mô dân số và nhu cầu đầu tư hạ tầng chiến lược. Việc thể chế hóa những định hướng này thông qua Luật Đô thị đặc biệt sẽ tạo lập một khung khổ pháp lý ổn định, bền vững, giúp Thành phố không chỉ vượt qua những thách thức của một siêu đô thị mà còn khẳng định vị thế đầu tàu, dẫn dắt sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước trong giai đoạn mới./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tài chính (2025), Báo cáo số 588/BC-BTC về kết quả 02 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 98/2023/QH15.

2. Cổng thông tin điện tử Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2026), Quy hoạch Thành phố Hồ Chí Minh theo mô hình đa trung tâm.

3. Nguyễn Huỳnh Thanh Bình (2026), Thiết kế cơ chế đặc thù về tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh: Hướng tới tái cấu trúc quản trị đô thị trong Luật Đô thị đặc biệt, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Quốc gia: Luật Đô thị đặc biệt: Đột phá thể chế cho Thành phố Hồ Chí Minh, Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh & Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 157 - 168.

4. Nguyễn Văn Trí & Huỳnh Thị Hồng Nhiên (2026), Thiết chế Ủy ban nhân dân trong Luật Đô thị đặc biệt: Từ “Chế độ tập thể” đến “Chế độ thủ trưởng”, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Quốc gia: Luật Đô thị đặc biệt: Đột phá thể chế cho Thành phố Hồ Chí Minh, Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh & Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 388 - 401.

5. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương (số 72/2025/QH15).

6. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 260/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.

7. Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh (2025), Báo cáo về thiệt hại kinh tế do ùn tắc giao thông và nhu cầu vốn đầu tư hạ tầng chiến lược.

Nguyễn Bích Thủy

Bài liên quan

Tin bài khác

BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 78/2025/AL - RANH GIỚI PHÁP LÝ 
GIỮA “THÀNH VIÊN CÔNG TY” VÀ “NGƯỜI HỢP TÁC KINH DOANH”

BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 78/2025/AL - RANH GIỚI PHÁP LÝ GIỮA “THÀNH VIÊN CÔNG TY” VÀ “NGƯỜI HỢP TÁC KINH DOANH”

Tóm tắt: Mặc dù Luật Doanh nghiệp năm 2014, sau đó là Luật Doanh nghiệp năm 2020 (được sửa đổi, bổ sung các năm 2022, 2025), đã từng bước hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty, nhưng thực tiễn vẫn phát sinh nhiều tranh chấp liên quan đến việc góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH). Một trong những vấn đề phức tạp là khi một người góp tiền vào công ty, được chia lợi nhuận và tham gia một số quyền lợi như thành viên, nhưng tên lại không được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đồng thời công ty cũng không thực hiện thủ tục tăng vốn điều lệ theo quy định. Trước tình trạng thiếu nhất quán trong xét xử, Án lệ ra đời nhằm xác lập nguyên tắc giải quyết tranh chấp về góp vốn trong công ty TNHH, phân biệt rõ giữa góp vốn điều lệ (với mục đích trở thành thành viên công ty) và góp vốn kinh doanh (chỉ nhằm tăng cường nguồn lực tài chính và phân chia lợi nhuận). Bài viết này tập trung phân tích cơ sở pháp lý, nội dung, những tác động cũng như các bất cập của Án lệ, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng án lệ trong thực tiễn. Từ khóa: Án lệ 78; góp vốn; không có thỏa thuận về góp vốn điều lệ; góp vốn nhằm mục đích kinh doanh. Nhận bài: 20/3/2026 Hoàn thành biên tập: 20/5/2026 Duyệt đăng: 03/6/2026
ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
LUẬT SƯ CÔNG TẠI HỌC VIỆN TƯ PHÁP

ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LUẬT SƯ CÔNG TẠI HỌC VIỆN TƯ PHÁP

Tóm tắt: Trong bối cảnh các vụ kiện hành chính và tranh chấp đầu tư quốc tế gia tăng mạnh mẽ, việc triển khai thí điểm chế định Luật sư công (LSC) theo Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về việc thí điểm thực hiện chế định LSC (Nghị quyết số 24/2026/QH16) là bước đi chiến lược nhằm bảo vệ tối ưu lợi ích quốc gia và quyền lợi của Nhà nước. Bài viết tập trung nghiên cứu và đề xuất định hướng xây dựng khung chương trình đào tạo LSC tại Học viện Tư pháp. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng để chuẩn hóa lộ trình đào tạo, góp phần xây dựng nền quản trị công minh bạch và chuyên nghiệp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ khóa: Luật sư, luật sư công, khung chương trình, chương trình đào tạo. Nhận bài: 26/5/2026 Hoàn thành biên tập: 28/5/2026 Duyệt đăng: 03/6/2026
THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO LUẬT 
Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ

THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO LUẬT Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo trong những năm gần đây đang góp phần làm thay đổi môi trường giáo dục đại học trên phạm vi toàn cầu. Trong lĩnh vực đào tạo luật, nơi tư duy phản biện, năng lực lập luận và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp giữ vai trò trung tâm, những tác động này mang tính cấu trúc và lâu dài. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đào tạo luật, khảo sát thực trạng sử dụng công nghệ này của 714 sinh viên ngành luật tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Nghệ An, đồng thời nhận diện những thách thức đối với chất lượng và mục tiêu đào tạo luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy trí tuệ nhân tạo đã được sử dụng phổ biến trong hầu hết các hoạt động học tập, trong khi khung pháp lý và cơ chế quản lý học thuật chưa được hoàn thiện tương xứng. Trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng điều chỉnh chính sách và triết lý giáo dục nhằm bảo đảm việc tích hợp công nghệ diễn ra phù hợp với giá trị cốt lõi của nghề luật. Từ khóa: Trí tuệ nhân tạo; đào tạo luật; giáo dục pháp luật; liêm chính học thuật; chuyển đổi số. Nhận bài: 20/3/2026 Hoàn thành biên tập: 20/5/2026 Duyệt đăng: 03/6/2026
KIỂM SOÁT HIỆN TƯỢNG KÉO DÀI BẢO HỘ ĐỘC QUYỀN SÁNG CHẾ 
TRONG LĨNH VỰC DƯỢC PHẨM - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 
VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

KIỂM SOÁT HIỆN TƯỢNG KÉO DÀI BẢO HỘ ĐỘC QUYỀN SÁNG CHẾ TRONG LĨNH VỰC DƯỢC PHẨM - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Tóm tắt: Bảo hộ độc quyền sáng chế không chỉ là quy định mà còn thể hiện chính sách và sự khuyến khích của pháp luật dành cho sản phẩm sáng tạo đổi mới. Tuy nhiên, nội dung này chỉ phát huy đúng giá trị khi loại bỏ những yếu tố trục lợi từ các chủ thể có liên quan. Bài viết phân tích hiện tượng kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế (KDBHĐQSC), làm rõ ranh giới giữa đổi mới sáng tạo hợp pháp (legitimate innovation) và kéo dài độc quyền sáng chế (evergreening), khảo sát kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Ấn Độ trong việc kiểm soát sáng chế dược phẩm thứ cấp, đồng thời đánh giá thực trạng kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm hạn chế nguy cơ kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm nhưng vẫn bảo đảm động lực đổi mới sáng tạo và tuân thủ các cam kết quốc tế của Việt Nam. Từ khóa: Kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế; sáng chế dược phẩm; sáng chế thứ cấp; quyền tiếp cận thuốc; Luật Sở hữu trí tuệ; TRIPS. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI 
VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

Tóm tắt: Việc ban hành Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã ghi nhận một bước tiến quan trọng trong việc cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lao động và an sinh xã hội ở Việt Nam. Bài viết phân tích những điểm mới của Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Đồng thời đưa ra một số tác động của những quy định này đến thị trường nhân lực lao động Việt Nam, hướng đến nguồn nhân lực phát triển bền vững, thích ứng với yêu cầu của thời đại chuyển đổi số và quá trình hội nhập quốc tế. Từ khóa: Luật Việc làm; Luật Bảo hiểm xã hội; Thị trường lao động; An sinh xã hội; nguồn nhân lực. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 
CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế nền tảng đã làm gia tăng mạnh mẽ lực lượng người lao động (NLĐ) cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số tại Việt Nam. Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong thị trường lao động và nền kinh tế đô thị, nhóm lao động này đang đối mặt với tình trạng thu nhập thiếu ổn định, phụ thuộc lớn vào thuật toán và cơ chế chia sẻ doanh thu do doanh nghiệp nền tảng đơn phương quyết định, trong khi chưa được bảo vệ đầy đủ bởi pháp luật lao động và an sinh xã hội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về bảo đảm thu nhập trong bối cảnh lao động nền tảng, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến lao động, bảo hiểm xã hội (BHXH) và pháp luật chuyên ngành về vận tải - nền tảng số, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý hiện nay. Trên cơ sở tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thu nhập ổn định, công bằng và bền vững cho NLĐ nền tảng. Từ khóa: Người lao động nền tảng; bảo đảm thu nhập; kinh tế nền tảng; pháp luật lao động; an sinh xã hội. Nhận bài: 20/11/2025 Hoàn thành biên tập: 20/12/2025 Duyệt đăng: 16/7/2026
BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC 
CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

Tóm tắt: Sự bùng nổ của nền kinh tế số làm xuất hiện Hợp đồng lao động điện tử (HĐLĐĐT), đặt ra thách thức lớn về sự giao thoa phức tạp giữa việc bảo vệ người lao động và rào cản kỹ thuật khắt khe của Luật Giao dịch điện tử. Bài viết nhằm bóc tách bản chất pháp lý, hệ thống hóa các điều kiện phát sinh hiệu lực của HĐLĐĐT và hậu quả pháp lý khi có tranh chấp. Qua nghiên cứu so sánh và phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam, tác giả kiến nghị áp dụng mô hình đánh giá theo phân tầng rủi ro và minh bạch trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Từ khoá: Giao dịch điện tử; hợp đồng lao động điện tử; hiệu lực; vô hiệu hợp đồng. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
ĐỐI VỚI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Tóm tắt: Bài viết phân tích điều kiện công nhận quyền sử dụng đất đối với đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo Điều 138 Luật Đất đai (LĐĐ) năm 2024, gồm các điều kiện về sử dụng đất ổn định, lâu dài, không vi phạm pháp luật đất đai và không có tranh chấp. Trên cơ sở làm rõ nền tảng lý luận và nhận diện những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, bài viết đề xuất các giải pháp pháp lý khả thi nhằm bảo đảm vai trò kép của Nhà nước vừa kiến tạo vừa điều tiết, dung hòa lợi ích công và lợi ích tư, qua đó nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật và thúc đẩy môi trường pháp lý bền vững về quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay. Từ khóa: Quyền sử dụng đất; đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất; Luật Đất đai năm 2024. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
XÁC ĐỊNH THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH CÓ CHUNG QUYỀN SỬ DỤNG 
ĐẤT NÔNG NGHIỆP - MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA 
THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024

XÁC ĐỊNH THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH CÓ CHUNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP - MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024

Tóm tắt: Việc xác định thành viên hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất (QSDĐ) là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình công nhận, cấp giấy chứng nhận, thực hiện các giao dịch chuyển QSDĐ và giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng. Bài viết phân tích vấn đề xác định thành viên hộ gia đình có chung QSDĐ nông nghiệp trong bối cảnh Luật Đất đai năm 2024 không còn ghi nhận hộ gia đình là một chủ thể sử dụng đất. Trên cơ sở làm rõ các tiêu chí xác định hộ gia đình sử dụng đất, bài viết chỉ ra một số vướng mắc phát sinh trong quá trình thực tiễn về căn cứ xác định thành viên có chung QSDĐ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp. Từ đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chủ thể có chung QSDĐ nông nghiệp đối với những thửa đất nông nghiệp có nguồn gốc cấp cho hộ gia đình. Từ khóa: Hộ gia đình sử dụng đất; QSDĐ nông nghiệp; thành viên hộ gia đình; Luật Đất đai năm 2024. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ 
HỖ TRỢ SINH SẢN TRONG HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ SINH SẢN TRONG HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI

Tóm tắt: Tại Việt Nam hiện nay, các cặp đôi đồng giới đang ngày càng hiện diện công khai và gia tăng về số lượng. Nhu cầu được bảo đảm các quyền về hôn nhân gia đình của nhóm chủ thể này là một thực tế. Về bản chất sinh học, nhóm đối tượng này hầu như không có khả năng sinh con theo phương thức truyền thống, do đó, công nghệ hỗ trợ sinh sản đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa quyền làm cha, mẹ của họ. Trên cơ sở phân tích thực tiễn pháp luật tại một số quốc gia đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới và đối chiếu với pháp luật Việt Nam, bài nghiên cứu làm rõ những bất cập, khoảng trống pháp lý trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công nghệ hỗ trợ sinh sản cho các cặp đôi đồng giới. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cặp đôi đồng giới thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ hỗ trợ sinh sản, phù hợp với xu hướng bảo vệ quyền con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Từ khóa: Công nghệ hỗ trợ sinh sản; cặp đôi đồng giới; hôn nhân đồng giới; pháp luật. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
cong-tu-phap
bo-tu-phap
trien-khai-thi-hanh
SỐ RA MỚI NHẤT

Trong số này:

CẢI CÁCH TƯ PHÁP
• BẢO ĐẢM VAI TRÒ NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lưu Thị Ngọc Lan
1
• TƯ DUY, NHẬN THỨC MỚI VỀ CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO NGHIÊN CỨU, GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI
Võ Khánh Vinh, Võ Khánh Minh
7
• QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TƯ DUY XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trần Thị Quyên
19

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
• NƠI CƯ TRÚ, LÀM VIỆC CỦA BỊ ĐƠN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Nguyễn Chí Hiếu
24
• LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG XẢY RA DO SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG
Nguyễn Tống Bảo Minh
31
• MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG CHỨNG ĐIỆN TỬ THEO LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2024
Nguyễn Văn Mích, Lại Thị Bích Ngà
37
• QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH VÀ KINH DOANH ONLINE, THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG CẢI CÁCH THEO CƠ CHẾ DỮ LIỆU VÀ DÒNG TIỀN
Cao Tấn Nho
43
• TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Nguyễn Mai Anh
48
• QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Hà Trọng Bắc, Nguyễn Trung Dương
54
• MẪU HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Nguyễn Mai Linh
60

• THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Đặng Tiến Đông, Tô Quang Anh
67

ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG
• CHUẨN HÓA TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN HÀNH NGHỀ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ QUẢN TÀI VIÊN - YẾU TỐ THEN CHỐT THỰC THI HIỆU QUẢ THỦ TỤC PHỤC HỒI VÀ PHÁ SẢN
Bùi Thị Hà
75
PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
• MÔ HÌNH GIÁO DỤC THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TẠI ÚC - KINH NGHIỆM CHO ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT TẠI VIỆT NAM
Đào Lệ Thu, Phạm Tiến Thành
81
• MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN THÁC TÀI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC Ở HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Châu Loan
89
• MÔ HÌNH PHÂN BỔ QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguyễn Hoài Thu
96
• XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI TỐ CÁO HỢP PHÁP - BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ ÚC VÀ HOA KỲ
Trần Vang Phủ, Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi
103
• HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI RỬA TIỀN TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT HOA KỲ
Đỗ Khánh Linh, Nguyễn Huệ Linh
109
• XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIỚI BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ - KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nguyễn Hà Chi, Nguyễn Minh Phương, Đỗ Phương Linh
115