DIVERSION FOR JUVENILE OFFENDERS IN VIETNAM - CHALLENGES AND SOLUTIONS
Abstract: In recent years, Vietnam’s criminal policy regarding juvenile offenders has undergone a significant transformation toward a more humanistic and progressive approach, increasingly aligning with international juvenile justice standards. A pivotal component of this trend is the institutionalization of diversion - a mechanism designed to circumvent formal criminal proceedings in favor of education, rehabilitation, and social reintegration for minors. Diversionary measures not only mitigate the detrimental impacts of the criminal justice process on juvenile development but also provide a conducive environment for reform, reinforced by family and community support. Nevertheless, to ensure the substantive efficacy and practical application of these regulations, a comprehensive identification of the challenges within the implementation process remains a critical imperative. This article outlines several challenges in implementing regulations on the handling of criminal cases involving juvenile offenders and proposes solutions to enhance the effectiveness of these regulations in Vietnam. Keywords: Diversion; Juvenile Justice Law; supervision; education. Date of receipt: 20/4/2026 Date of revision: 10/6/2026 Date of approval: 16/7/2026
Đặt vấn đề: Luật Tư pháp người chưa thành niên có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026, là sự kết tinh của tư duy đổi mới, thay thế hoàn toàn các quy định mang tính lồng ghép và phân tán trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Trọng tâm của đạo luật này chính là cơ chế XLCH- một bước tiến từ mô hình tư pháp truyền thống sang mô hình tư pháp phục hồi. XLCH không chỉ nhằm hạn chế các tác động tiêu cực của quy trình tố tụng hình sự khắc nghiệt và tránh việc “dán nhãn” tội phạm lên NCTN, mà còn tạo môi trường thân thiện để các em sửa chữa sai lầm thông qua giáo dục và sự hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa các giá trị cốt lõi này đang đối mặt với nhiều thách thức đặc thù về nguồn lực con người, cơ chế phối hợp liên ngành cũng như những rào cản từ dư luận xã hội. Vì vậy, việc nhận diện đầy đủ các khó khăn và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo Luật Tư pháp người chưa thành niên thực sự đi vào cuộc sống. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài viết sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý như: Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp luật học so sánh và tiếp cận liên ngành.
1. Một số vấn đề chung về xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội
1.1. Mục đích, nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
Xử lý chuyển hướng đang ngày càng được áp dụng như phương án chính để xử lý NCTN vi phạm pháp luật vì biện pháp này giúp ngăn chặn tái phạm, tăng khả năng giáo dục NCTN và hạn chế hệ quả tiêu cực phát sinh từ việc điều tra, truy tố, xét xử đối với NCTN. Điều 34 Luật Tư pháp NCTN quy định mục đích xử lý chuyển hướng bao gồm: (1) Xử lý kịp thời và hiệu quả đối với NCTN; (2) Giúp NCTN thay đổi nhận thức, nhận biết, sửa chữa sai lầm đã gây ra, tự rèn luyện khắc phục, ngăn ngừa nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội và giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội; (3) Đẩy mạnh việc hòa giải giữa NCTN và bị hại bị ảnh hưởng bởi hành vi phạm tội của NCTN; (4) Nâng cao trách nhiệm của gia đình và cộng đồng tham gia trực tiếp vào hoạt động XLCH; (5) Hạn chế tác động tiêu cực của thủ tục tố tụng hình sự đối với NCTN; (6) Ngăn ngừa NCTN phạm tội mới, tạo điều kiện tái hòa nhập cộng đồng. Các nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên (TPNCTN) bao gồm: (1) Việc áp dụng biện pháp XLCH phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; khả năng giáo dục, phục hồi của NCTN phạm tội và sự an toàn của bị hại, cộng đồng; (2) Việc lựa chọn biện pháp XLCH áp dụng đối với NCTN phạm tội phải phù hợp với hoàn cảnh, độ tuổi, đặc điểm tâm sinh lý của họ; (3) NCTN phạm tội có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp XLCH tại cộng đồng. (4) Trường hợp NCTN phạm tội bị áp dụng nhiều biện pháp XLCH tại cộng đồng khác nhau nhưng cùng phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 23 Luật Tư pháp NCTN (Tuân thủ pháp luật, chấp hành nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; Chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp XLCH; Báo cáo tình hình chấp hành biện pháp XLCH khi được yêu cầu; Trình diện cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu trong thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp XLCH tại cộng đồng) thì thời gian thực hiện nghĩa vụ không vượt quá mức thời hạn cao nhất quy định đối với biện pháp được áp dụng; (5) Không áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đồng thời với các biện pháp XLCH tại cộng đồng; (6) Không áp dụng biện pháp XLCH nếu tại thời điểm xem xét người phạm tội đã đủ 18 tuổi. Việc quy định và thực thi các nguyên tắc nêu trên nhằm bảo đảm hiệu quả của việc áp dụng biện pháp XLCH, ngăn chặn tình trạng lạm dụng hoặc ngần ngại khi áp dụng biện pháp XLCH.
1.2. Các biện pháp xử lý chuyển hướng
Luật Tư pháp NCTN quy định 12 biện pháp xử lý chuyển hướng trong đó có 11 biện pháp XLCH tại cộng đồng. Các biện pháp XLCH cụ thể gồm: (1) Khiển trách; (2) Xin lỗi bị hại; (3) Bồi thường thiệt hại; (4) Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; (5) Quản thúc tại gia đình; (6) Hạn chế khung giờ đi lại; (7) Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến NCTN phạm tội mới; (8) Cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến NCTN phạm tội mới; (9) Tham gia chương trình học tập, dạy nghề; (10) Tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý; (11) Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng; (12) Giáo dục tại trường giáo dưỡng. Về nguyên tắc, NCTN phạm tội có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng. Tuy nhiên, không áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đồng thời với các biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng và không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nếu tại thời điểm xem xét người phạm tội đã đủ 18 tuổi.
1.3. Cơ sở và lợi ích của biện pháp xử lý chuyển hướng
Cơ sở của việc quy định XLCH xuất phát từ những kết quả nghiên cứu về khả năng giáo dục, nguy cơ tái phạm của NCTN, những tác động của việc điều tra, truy tố, xét xử đối với NCTN. Cụ thể, các nghiên cứu cho thấy3: i) Phần lớn NCTN vi phạm pháp luật (70 - 80%) có nguy cơ vi phạm thấp và sẽ tự ngừng hành vi này mà không cần/cần ít can thiệp từ cơ quan có thẩm quyền; ii) Đối với hầu hết những NCTN này, việc bị bắt quả tang và tham gia hòa giải hay một số chương trình chuyển hướng khác nhìn chung là đủ sức răn đe, khiến các em không dám có hành vi sai trái trong tương lai; iii) NCTN được áp dụng XLCH từ giai đoạn điều tra sẽ ít có khả năng tái phạm hơn NCTN đã ra tòa xét xử. Việc điều tra và xét xử NCTN có nguy cơ vi phạm thấp không chỉ không cần thiết để ngăn chặn tái phạm mà còn gây phản tác dụng, vì điều này có thể gia tăng khả năng NCTN sẽ tái phạm do các em bị mang tiếng xấu và kỳ thị; iv) Một quy trình tư pháp phục hồi hoặc kế hoạch XLCH tốt có thể là một cách rất hiệu quả để tác động đến tư duy và hành vi của NCTN, khuyến khích tìm hiểu kỹ hơn tác động hành vi của trẻ đối với người khác và củng cố mối liên hệ giữa NCTN với những tác động tích cực trong gia đình và cộng đồng ở giai đoạn chuyển tiếp khó khăn này trong cuộc sống. Việc XLCH mang lại lợi ích đáng kể cho NCTN là người phạm tội, nạn nhân, hệ thống tư pháp cũng như cộng đồng nói chung, cụ thể là: Thứ nhất, việc XLCH mang lại những lợi ích nhất định cho NCTN như: Ngăn tác động tiêu cực từ việc giam giữ và xét xử; hiệu quả hơn trong việc giúp NCTN hiểu hậu quả hành vi của mình và chịu trách nhiệm cho hành động; tạo cơ hội cho NCTN chịu trách nhiệm trước hành động của mình và bù đắp cho nạn nhân, nhưng không để lại tiền án; giúp NCTN và gia đình nhận được hỗ trợ để xử lý hành vi có vấn đề trước khi vấn đề leo thang. Thứ hai, XLCH cho phép nạn nhân trực tiếp có ý kiến về kết quả muốn đạt được; thúc đẩy hòa giải giữa NCTN vi phạm pháp luật, gia đình và nạn nhân; xin lỗi, bồi thường hoặc bù đắp kịp thời cho nạn nhân. Thứ ba, XLCH giúp các vụ việc được xử lý khẩn trương và áp dụng ngay biện pháp cho hành vi vi phạm; giúp giảm số lượng các vụ ít nghiêm trọng hơn bị tồn đọng trong hệ thống Tòa án, từ đó giúp tập trung nguồn lực vào những người vi phạm pháp luật nhiều lần hoặc có nguy cơ cao. Đồng thời, hiệu quả về chi phí hơn và giúp hợp lý hóa hơn các nguồn lực cho hệ thống tư pháp cho NCTN. Thứ tư, XLCH khuyến khích NCTN chịu trách nhiệm trước tổn hại đã gây ra đối với nạn nhân và cộng đồng; cộng đồng tham gia hỗ trợ quá trình phục hồi nhân phẩm của NCTN; góp phần vào sự an toàn của cộng đồng thông qua giảm hành vi; tái phạm.
2. Thách thức trong triển khai quy định về xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội tại Việt Nam
2.1. Thách thức về nguồn lực con người
Thứ nhất, đối với đội ngũ người tiến hành tố tụng Một là, về nhận thức. Thách thức đầu tiên có thể đề cập tới liên quan tới việc triển khai các quy định về XLCH là rào cản về mặt nhận thức của hệ thống thực thi pháp luật. Để những quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên thực sự đi vào cuộc sống và tạo ra thay đổi “trong cuộc đời của mỗi trẻ em, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng”, điều quan trọng trước hết là phải bảo đảm sự đồng bộ về nhận thức và chuyên môn của những người tiến hành và tham gia tố tụng4. Khái niệm “xử lý chuyển hướng” dù đã xuất hiện trong các văn kiện quốc tế nhưng vẫn tương đối mới mẻ tại Việt Nam. Theo các nghiên cứu từ các tổ chức quốc tế và Bộ Tư pháp, nhiều cán bộ tư pháp vẫn tỏ ra hoài nghi về hiệu quả thực tế của các biện pháp phi hình phạt mang tính giáo dục tại cộng đồng. Tâm lý này phần nào được phản ánh qua những con số thống kê về việc áp dụng biện pháp tạm giam và hình phạt tù đối với NCTN. Theo thống kê của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao5, việc áp dụng các biện pháp giam giữ đối với NCTN vẫn ở mức tương đối cao. Tỷ lệ tạm giam đối với bị can chưa thành niên trong giai đoạn điều tra là 31,53%, trong giai đoạn truy tố là 35,05% và trong giai đoạn xét xử là 32,4%; 61,73% NCTN phạm tội bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Những số liệu này cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể giữa định hướng chính sách chú trọng giáo dục và phục hồi với thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý mang tính trừng phạt. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc đưa một đứa trẻ qua toàn bộ quy trình tố tụng hình sự khắc nghiệt sẽ vô tình dán nhãn “tội phạm” lên chúng, làm suy giảm lòng tự trọng và thúc đẩy chúng tiếp tục hành vi lệch chuẩn để phù hợp với cái nhãn đó. Luật TPNCTN ưu tiên áp dụng XLCH ngay từ giai đoạn điều tra nhằm ngăn chặn hiệu ứng nhãn hóa này. Tuy nhiên, nếu những người THTT không hiểu đúng cơ sở nền tảng và bản chất nhân văn của XLCH, việc áp dụng XLCH có thể mang tính khiên cưỡng với “sự quan ngại” về hiệu quả của các biện pháp XLCH và tư pháp phục hồi với NTCN. Việc không hiểu đúng, hiểu đủ bản chất các quy định của Luật TPNCTN là một trong những thách thức không nhỏ trong quá trình triển khai và thực thi. Do đó, để nâng cao hiệu quả triển khai trên thực tế thì việc phổ biến quy định này không nên chỉ dừng lại ở các hội nghị quán triệt văn bản mang tính một chiều, mà phải là một quá trình chuyển đổi tư tưởng sâu sắc, phá vỡ những định kiến, e ngại vốn là “trở lực mạnh mẽ cho việc cơ quan/người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ưu tiên lựa chọn XLCH và tư pháp phục hồi với NCTN”6. Hai là, về năng lực chuyên môn. Việc triển khai hiệu quả Luật TPNCTN phụ thuộc khá nhiều vào năng lực của đội ngũ cán bộ tư pháp và các chủ thể liên quan. Các quy định mới của Luật đòi hỏi thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, trợ giúp viên pháp lý và các cán bộ, chuyên gia khác không chỉ nắm vững các quy định pháp luật mà còn phải được trang bị kiến thức liên ngành về tâm lý học trẻ em, khoa học giáo dục và công tác xã hội, cũng như các kỹ năng chuyên môn để thực hiện các thủ tục tố tụng thân thiện với trẻ em. Từ trước khi Luật TPNCTN được ban hành, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) đã quy định người tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải là người đã được đào tạo hoặc có kinh nghiệm điều tra, truy tố, xét xử vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục đối với người dưới 18 tuổi (Điều 415). Điều 16 Luật TPNCTN tiếp tục kế thừa quy định này với yêu cầu chuyên môn hóa trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên. Tuy nhiên, thực tế tiêu chí đo lường, đánh giá thế nào là “đã qua đào tạo, bồi dưỡng” chưa cụ thể. Một số các cán bộ tố tụng thường lúng túng khi phải thực hiện các kỹ năng như phỏng vấn thân thiện, lấy lời khai của trẻ em bị tổn thương tâm lý, đánh giá mức độ rủi ro tái phạm dựa trên các yếu tố gia đình, xã hội, hay kỹ năng giao tiếp phi bạo lực… XLCH là quy định mới của Luật TPNCTN, việc triển khai các quy định này đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải có những năng lực cốt lõi cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ. Việc thiếu vắng hoạt động đào tạo bài bản và thường xuyên về tư pháp NCTN nói chung và XLCH nói riêng sẽ khiến khoảng trống về năng lực của đội ngũ người tiến hành tố tụng khó được giải quyết và sẽ là thách thức lớn với việc triển khai các quy định về XLCH trong thực tiễn. Thực trạng hiện nay cho thấy Việt Nam chưa có một chương trình đào tạo chuẩn mực, bắt buộc và mang tính chuyên biệt, liên ngành về tư pháp người chưa thành niên dành cho người tiến hành tố tụng. Các kết quả khảo sát từ dự án “Tăng cường pháp luật và tư pháp tại Việt Nam” (EU JULE) do Liên minh Châu Âu tài trợ và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện đã chỉ ra những khoảng trống về năng lực cốt lõi của các chức danh tư pháp7. Quá trình đào tạo tại các cơ sở đào tạo hiện nay chủ yếu vẫn tập trung vào việc truyền thụ các quy phạm pháp luật thực định, các kỹ năng tố tụng trong khi lại thiếu hụt các kỹ năng mềm có tính chất liên ngành. Hệ thống học liệu đào tạo hiện hành chưa đa dạng, số lượng hồ sơ tình huống thực tế chưa nhiều, thiếu video mô phỏng và đặc biệt là thiếu các cơ hội thực hành tại các phiên tòa giả định thân thiện với trẻ em. Do đó, nếu không có sự thay đổi trong đào tạo, bồi dưỡng về tư pháp NCTN cùng những giải pháp đồng bộ nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ người tiến hành tố tụng, việc triển khai Luật Tư pháp NCTN nói chung và quy định về XLCH nói riêng sẽ gặp nhiều trở ngại, tiềm ẩn nguy cơ gây tổn thương thứ cấp cho trẻ em ngay trong quá trình giải quyết vụ việc. Thứ hai, đối với đội ngũ người làm công tác xã hội Luật TPNCTN có nhiều quy định liên quan tới người làm công tác xã hội. Theo đó, người làm công tác xã hội chính thức tham gia vào hoạt động tư pháp theo từng vụ việc cụ thể với vai trò là người hỗ trợ, tham vấn, đánh giá tâm lý và trực tiếp giám sát quá trình phục hồi của người chưa thành niên. Người làm công tác xã hội giữ vai trò quan trọng trong quá trình XLCH với những nhiệm vụ cụ thể như: xây dựng báo cáo điều tra xã hội, kế hoạch XLCH; tham gia hỗ trợ và can thiệp phù hợp đối với người chưa thành niên khi có yêu cầu; tham gia phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp XLCH; tham gia công tác thi hành quyết định áp dụng biện pháp XLCH tại cộng đồng, tái hòa nhập cộng đồng cho NCTN theo quy định của pháp luật (Điều 32 Luật TPNCTN). Tuy nhiên, thách thức đặt ra ở đây là một bài toán kép về năng lực và chế độ đãi ngộ. Một là, về năng lực: Với quy định của Luật TPNCTN, người làm công tác xã hội là mắt xích quan trọng trong thủ tục XLCH. Họ phải gánh vác một khối lượng công việc khổng lồ và phức tạp. Tuy nhiên, trên thực tế, đến năm 2026, lực lượng này tại cấp xã chủ yếu vẫn là kiêm nhiệm hoặc chưa được đào tạo chuyên sâu về công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp8. Như vậy, số người kiêm nhiệm làm công tác xã hội chiếm tỉ lệ cao trong tổng số người làm công tác xã hội của tỉnh. Mặc dù đây “là những người có trình độ chuyên môn về các ngành công tác xã hội, luật, xã hội học, tâm lý học…”9 nhưng việc lập báo cáo điều tra xã hội, xây dựng kế hoạch XLCH và các công việc liên quan khác đòi hỏi sự đầu tư thời gian và cần có các kỹ năng đánh giá khoa học về tâm lý, hoàn cảnh gia đình, môi trường sống và nguy cơ tái phạm của NCTN. Sự thiếu hụt cả về số lượng lẫn chất lượng nhân sự dẫn đến tình trạng báo cáo điều tra xã hội mang tính hình thức, làm giảm vai trò thực chất của công tác xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng quyết định cũng như hiệu quả giám sát trong XLCH10. Hai là, về chế độ đãi ngộ: Theo Điều 4 Luật TPNCTN, kinh phí cho hoạt động tư pháp NCTN trong đó có chi phí cho người làm công tác xã hội tham gia tố tụng được bảo đảm từ ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Thực tế, việc chi trả thù lao và định mức hỗ trợ tại nhiều địa phương vẫn còn một số khó khăn. Người làm công tác xã hội thường phải làm việc với áp lực tâm lý lớn, tiếp xúc với các đối tượng có nguy cơ cao, vi phạm pháp luật nghiêm trọng, thậm chí đối mặt với sự bất hợp tác và đe dọa từ gia đình người vi phạm. Tuy nhiên, mức phụ cấp và thù lao hiện hành còn khiêm tốn, chưa tương xứng với công sức lao động trí óc và rủi ro nghề nghiệp. Với định hướng tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ nhân viên công tác xã hội đáp ứng nhu cầu thực tiễn, cần có sự phân bổ ngân sách nhằm bảo đảm chế độ đãi ngộ phù hợp và có cơ chế bảo vệ an toàn nghề nghiệp cho đội ngũ này.
2.2. Thách thức về sự phối hợp trong quá trình triển khai quy định về xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên
Thứ nhất, sự phối hợp của cộng đồng và các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý, giáo dục NCTN Bản chất triết lý của XLCH là tách người chưa thành niên ra khỏi các thủ tục tố tụng hình sự truyền thống, ngăn chặn sự kỳ thị từ việc “gắn mác” tội phạm và các hệ quả tiêu cực của việc điều tra, truy tố, xét xử, đưa họ trở về với vòng tay của cộng đồng, gia đình và nhà trường. Điều này đồng nghĩa với cộng đồng, chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân cấp xã, phường) và các tổ chức đoàn thể (Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) giữ vai trò rất quan trọng trong quy trình XLCH. Tuy nhiên, thách thức đặt ra là cơ chế phối hợp giữa các chủ thể này hiện nay vẫn còn mang nặng tính hình thức, vận hành rời rạc và thiếu chiều sâu. Việc giao NCTN cho chính quyền địa phương giám sát thường mang tính hình thức, thiếu các chương trình trị liệu hành vi hoặc hướng nghiệp thực thụ, dẫn tới khả năng tăng nguy cơ tái phạm và giảm đi hiệu lực thực tế của biện pháp giáo dục tại cộng đồng11. Các tổ chức đoàn thể ở cấp cơ sở thường xuyên rơi vào tình trạng quá tải bởi rất nhiều các nhiệm vụ hành chính, phong trào thi đua khác nhau. Cán bộ Hội Phụ nữ hay Đoàn Thanh niên đa phần hoạt động kiêm nhiệm, không được trang bị các kỹ năng chuyên biệt về quản lý, can thiệp khủng hoảng hay đánh giá rủi ro tội phạm. Ví dụ: Việc giám sát một thanh thiếu niên có tiền sử sử dụng ma túy, tham gia băng nhóm hoặc có dấu hiệu rối loạn hành vi đòi hỏi kỹ năng của một nhà chuyên môn chứ không đơn thuần là những lời động viên, an ủi. Khi trách nhiệm của cộng đồng không được lượng hóa bằng các quy chế phối hợp minh bạch, không có nguồn tài chính được cấp riêng biệt cho các hoạt động giám sát tại cơ sở, việc áp dụng biện pháp XLCH tại cộng đồng khó đạt được hiệu quả. Thứ hai, sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Luật Tư pháp NCTN trao quyền chủ động rất lớn cho Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân trong việc quyết định áp dụng biện pháp XLCH ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố. Sự phân cấp này là hoàn toàn khoa học, giúp rút ngắn tối đa thời gian NCTN phải tiếp xúc với hệ thống tố tụng. Tuy nhiên, nó đồng thời tạo ra một điểm nghẽn về cơ chế phối hợp liên ngành. Quy trình giải quyết án hình sự tại Việt Nam đòi hỏi sự thống nhất cao giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Khi thẩm quyền XLCH được chia sẻ, sự thiếu đồng bộ trong tư duy đánh giá chứng cứ, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi hay khả năng phục hồi của NCTN phạm tội giữa Điều tra viên và Kiểm sát viên có thể dẫn đến sự không kịp thời, thống nhất trong XLCH. Lịch sử thi hành pháp luật đã chứng minh, các biện pháp giám sát, giáo dục (tiền thân của XLCH) dù đã được quy định nhưng quy trình áp dụng rườm rà, thiếu tính khả thi, dẫn đến thực trạng “hầu như không được áp dụng” trên thực tế.12. Một thách thức nữa đó là sự chậm trễ trong việc nghiên cứu và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật, đặc biệt là các Thông tư liên tịch giữa Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao. Việc thiếu vắng các văn bản hướng dẫn chi tiết quy định cụ thể về thời hạn luân chuyển hồ sơ, biểu mẫu đánh giá rủi ro, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng…là rào cản lớn đối với việc thực thi Luật Tư pháp NCTN.
2.3. Một số thách thức khác trong quá trình triển khai thực hiện quy định về xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên
Thứ nhất, dư luận xã hội và sự không đồng thuận của bị hại đối với các biện pháp khoan hồng dành cho người bị buộc tội Một trong những rào cản lớn khi triển khai các quy định về XLCH là sự xung đột trực diện giữa lợi ích của người bị buộc tội (người được nhận sự khoan hồng, giáo dục) và quyền lợi của người bị hại (người chịu tổn thất). Khái niệm công lý phục hồi đặt mục tiêu hàn gắn những tổn thương của nạn nhân và khôi phục sự cân bằng của các mối quan hệ xã hội ngang hàng với mục tiêu giáo dục người phạm tội. Sự đồng thuận tự nguyện của người bị hại là yếu tố mang tính quyết định để biện pháp chuyển hướng được thực thi dễ dàng trên thực tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, nơi mà sự kỳ vọng vào một bản án nghiêm khắc để xoa dịu nỗi đau của nạn nhân vẫn còn hiện diện mạnh mẽ, việc dư luận xã hội hiểu sai lệch về XLCH là điều khó tránh khỏi. Đối với những vụ án mà hành vi phạm tội gây ra hậu quả rõ ràng về sức khỏe, danh dự hoặc tài sản lớn, việc thuyết phục người bị hại và gia đình họ chấp nhận từ bỏ việc truy cứu trách nhiệm hình sự để đổi lấy các lợi ích phục hồi là một thách thức lớn. Nếu quá trình đánh giá áp dụng chuyển hướng không được tiến hành một cách minh bạch, thiếu sự tham vấn khách quan về mức độ tổn thương của người bị hại, các cơ quan tư pháp sẽ lập tức vấp phải sự phản ứng dữ dội từ truyền thông và công chúng. Đòi hỏi của người bị hại và công chúng về sự trừng phạt ngang bằng hay thậm chí là “sự trả thù tương xứng” cũng là một xu hướng tâm lý xã hội có phần phản ánh “cảm xúc đám đông” dẫn tới có vụ án dù NCTN đủ điều kiện chuyển hướng, nhưng dưới áp lực từ người bị hại và dư luận xã hội (đặc biệt là các vụ án gây bão truyền thông), các cơ quan tố tụng thường có xu hướng chọn phương án “an toàn” là truy tố để tránh bị cáo buộc bỏ lọt tội phạm13. Thứ hai, rủi ro lạm dụng tính tùy nghi của biện pháp xử lý chuyển hướng Một đặc trưng của Luật Tư pháp người chưa thành niên là tính linh hoạt, được thể hiện qua cụm từ “có thể áp dụng” đối với các biện pháp XLCH. Tính tùy nghi này cho phép các cơ quan tư pháp thực hiện nguyên tắc cá thể hóa việc xử lý NCTN phạm tội, lựa chọn biện pháp phù hợp nhất với hoàn cảnh đặc thù của từng cá nhân. Tuy nhiên, mặt trái của quy định này chính là rủi ro lạm dụng trong thực tiễn áp dụng theo các chiều hướng như: (i) Áp dụng biện pháp XLCH tràn lan, không đúng quy định pháp luật và điều kiện thực tế và (ii) Từ chối áp dụng XLCH dù đối tượng hoàn toàn đủ điều kiện. Cả hai biểu hiện nêu trên đều khiến các quy định nhân văn, tiến bộ về XLCH không phát huy được hiệu quả trong thực tiễn. Thứ ba, thách thức về nguồn lực vật chất Để thực thi tố tụng thân thiện với NCTN nói chung và áp dụng hiệu quả quy định về XLCH nói riêng, cần có những đầu tư nhất định về cơ sở vật chất như các phòng điều tra thân thiện, các thiết bị hỗ trợ giáo dục và giám sát chuyên biệt (như hệ thống giám sát điện tử tại cộng đồng…), đồng thời cần có nguồn lực cho việc vận hành các chương trình học tập, dạy nghề, điều trị hoặc tư vấn tâm lý cho NCTN. Thực tế, việc đầu tư phòng điều tra thân thiện đã được quan tâm và bước đầu phát huy hiệu quả tích cực14 trong khi nguồn lực đầu tư các thiết bị hỗ trợ, giám sát và nguồn tài chính các tổ chức xã hội, cơ sở giáo dục, dạy nghề tham gia hỗ trợ NCTN còn nhiều hạn chế. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc áp dụng XLCH trong thực tế.
3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai quy định về xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội tại Việt Nam
3.1. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực
Thứ nhất, đổi mới toàn diện nhận thức và chuẩn hóa chương trình đào tạo, bồi dưỡng về tư pháp NCTN Giải pháp gốc rễ là phải tạo ra một cuộc cách mạng về nhận thức trong toàn bộ hệ thống tư pháp. Do vậy cần có chiến lược truyền thông bài bản, sâu rộng, quán triệt về bản chất nhân văn và lợi ích dài hạn của XLCH đối với sự phát triển NCTN và việc phòng, chống tội phạm chưa thành niên. Bên cạnh đó, cần phát huy hơn nữa vai trò tích cực của gia đình và cộng đồng xã hội trong việc thực hiện các biện pháp XLCH đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Về công tác đào tạo, bồi dưỡng, cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ NTHTT và đội ngũ cán bộ xã hội trực tiếp giám sát, giáo dục người được XLCH. Đồng thời, cần thiết lập các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu và bắt buộc về tư pháp người chưa thành niên. Mô hình đào tạo cần áp dụng phương pháp giáo dục trải nghiệm: đưa vào giảng dạy các học phần độc lập, xây dựng ngân hàng hồ sơ tình huống, tình huống thực hành đa dạng, tổ chức thực hành mô phỏng phiên họp xem xét, áp dụng biện pháp XLCH… Định lượng tiêu chí đã qua đào tạo, bồi dưỡng về tư pháp NCTN bằng quy định chỉ những cán bộ được cấp chứng chỉ chuyên môn từ các khóa đào tạo, bồi dưỡng bắt buộc nêu trên này mới được phân công thụ lý, giải quyết các vụ án liên quan đến NCTN. Thứ hai, xây dựng cơ chế đãi ngộ chuyên biệt và chuyên nghiệp hóa lực lượng công tác xã hội. Cụ thể hóa quy định tại Nghị định số 120/2026/ NĐ-CP, cần sớm có các quy định về định mức chi trả thù lao và các khoản hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho người làm công tác xã hội trong từng khâu tố tụng. Chế độ đãi ngộ không chỉ dừng lại ở mức khoán vụ việc, mà cần bao gồm phụ cấp rủi ro, chi phí đi lại, và kinh phí hỗ trợ tham vấn tâm lý định kỳ. Bên cạnh đó, cần từng bước chuyên nghiệp hóa đội ngũ nhân viên công tác xã hội tại cấp xã/phường, tăng số lượng nhân viên công tác xã hội làm việc chuyên trách, xây dựng bộ tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp độc lập cho chuyên gia công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp hình sự, bảo đảm định mức biên chế, chế độ đãi ngộ cho đội ngũ này.
3.2. Nhóm giải pháp về sự phối hợp trong triển khai thực hiện quy định về xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên
Để tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và sự phối hợp của cộng đồng với các tổ chức chính trị - xã hội trong triển khai thực hiện quy định về XLCH cần quan tâm, chú trọng ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành áp dụng Luật Tư pháp NCTN, đặc biệt hướng dẫn cơ chế phối hợp liên ngành trong XLCH trong đó quy định rõ quy trình bàn giao, thời hạn thông báo, đầu mối tiếp nhận và chế độ báo cáo giữa các cơ quan tư pháp, chính quyền địa phương và tổ chức xã hội15. Liên ngành Tư pháp Trung ương (Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao) cần đẩy nhanh tiến độ soạn thảo và ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết quy trình, thủ tục phối hợp áp dụng XLCH. Văn bản này phải quy định rạch ròi mốc thời gian luân chuyển hồ sơ, trách nhiệm giải trình của từng cơ quan và chuẩn hóa các biểu mẫu đánh giá rủi ro tái phạm để áp dụng thống nhất trên toàn quốc.
3.3. Nhóm giải pháp khác
Thứ nhất, thiết lập cơ chế “Hội đồng xét duyệt chuyển hướng” nhằm kiểm soát tính tùy nghi trong thực tế áp dụng. Để khắc phục rủi ro lạm dụng quyền lực, có thể nghiên cứu thiết lập một cơ chế mang tính đột phá: “Hội đồng xét duyệt chuyển hướng” tại các địa phương. Hội đồng này sẽ hoạt động như một cơ quan tham vấn đa ngành, với thành phần bao gồm đại diện Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Thẩm phán chuyên trách (Tòa Gia đình và Người chưa thành niên), chuyên gia tâm lý học và đại diện Đoàn Thanh niên hoặc Hội Phụ nữ. Trước khi quyết định áp dụng bất kỳ biện pháp XLCH nào, đặc biệt là trong các vụ án có tính chất phức tạp, Cơ quan tiến hành tố tụng cần tham khảo ý kiến đánh giá rủi ro từ Hội đồng này. Sự tham gia của các chuyên gia liên ngành sẽ đảm bảo tính khách quan, minh bạch, đánh giá toàn diện mức độ nguy hiểm của đối tượng và tính khả thi của biện pháp giáo dục, từ đó bảo vệ quyết định của cán bộ tố tụng trước áp lực dư luận và xóa bỏ nguy cơ lạm quyền. Thứ hai, triển khai mô hình “Hội nghị tư pháp” và các giải pháp công lý phục hồi Để giải quyết bài toán mâu thuẫn lợi ích và tranh thủ sự đồng thuận của người bị hại, Việt Nam cần nghiên cứu thí điểm và nhân rộng các mô hình đối thoại phục hồi, điển hình là “Hội nghị tư pháp” đang được áp dụng rất thành công tại bang Queensland, Australia16, và một số quốc gia Châu Âu. Thông qua sự trung gian điều phối của các chuyên gia công tác xã hội được đào tạo bài bản, người phạm tội chưa thành niên, gia đình của họ và người bị hại sẽ được đặt vào một không gian đối thoại an toàn và cởi mở. Quy trình này cho phép người bị hại bày tỏ những tổn thương tâm lý và vật chất mà họ phải gánh chịu, đồng thời buộc NCTN phải đối diện trực tiếp với hậu quả do hành vi của mình gây ra. Khi đạt được một thỏa thuận bồi thường, khắc phục hậu quả có sự chứng kiến và bảo lãnh của cộng đồng, sự phẫn nộ của người bị hại sẽ được xoa dịu, từ đó góp phần làm thay đổi nhận thức của dư luận xã hội về tính hiệu quả của biện pháp XLCH. Thứ ba, đầu tư trọng điểm cơ sở vật chất kết hợp phát huy tính chủ động của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Cần xây dựng các cơ sở vật chất; tăng cường liên kết, hợp tác với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, cơ sở y tế, cơ sở đào tạo nghề để đảm bảo các nguồn lực cho việc thực hiện các biện pháp XLCH như xây dựng, thiết kế các chương trình học tập, dạy nghề, lao động phù hợp với người dưới 18 tuổi được XLCH... Để các biện pháp XLCH như tham gia chương trình học tập, dạy nghề, tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý phát huy hiệu quả thực tế cần bảo đảm nguồn lực tài chính ổn định cho các tổ chức xã hội, cơ sở giáo dục, dạy nghề tham gia hỗ trợ NCTN. Bên cạnh ngân sách địa phương, cần có cơ chế cho phép huy động hợp pháp các nguồn xã hội hóa để ký kết dịch vụ tư vấn tâm lý, giáo dục nghề nghiệp và phục hồi xã hội17.
Kết luận: Như vậy, có thể thấy rằng, xử lý chuyển hướng đối với NCTN phạm tội là nội dung quan trọng của Luật Tư pháp NCTN. Việc nhận diện các thách thức, rào cản trong quá trình triển khai thực hiện quy định về XLCH cho thấy hiệu quả của việc áp dụng XLCH phụ thuộc vào nhiều yếu tố từ nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất, cơ chế phối hợp liên ngành… và cần có những giải pháp đồng bộ với lộ trình thực hiện bài bản để XLCH thực sự phát huy được ý nghĩa nhân văn và những lợi ích không chỉ đối với NCTN mà với cả cộng đồng xã hội./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bạch Hạc, Lồng ghép tư pháp người chưa thành niên trong đào tạo pháp luật, https://daibieu nhandan.vn/long-ghep-tu-phap-nguoi-chua-thanh- nien-trong-dao-tao-phap-luat-10412358.html, truy cập ngày 14/4/2026.
2. Trần Kim Chi, Trần Tuấn Vũ (2022), Xử lý chuyển hướng người chưa thành niên phạm tội - kinh nghiệm của Australia và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam, Tạp chí Luật học số 9.
3. Nguyễn Thị Phương Hoa - Lê Huỳnh Tấn Duy (2022), Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên, Nxb Công an nhân dân, tr. 698.
4. Học viện Tư pháp (2026), Báo cáo Đánh giá nhu cầu đào tạo và đề xuất lồng ghép tư pháp người chưa thành niên vào chương trình đào tạo nghề luật sư và chương trình đào tạo chung nguồn thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư tại Học viện Tư pháp.
5. Linh Nhi (2026), Công bố 96 người làm công tác xã hội trong lĩnh vực tư pháp người chưa thành niên, https://baokhanhhoa.vn/xa-hoi/ 202604/cong-bo-96-nguoi-lam-cong-tac-xa hoi-trong-linh-vuc-tu-phap-doi-voi-nguoi-chua thanh-nien-7173bf1/, truy cập ngày 01/5/2026
6. Đinh Thị Mộng Cẩm, Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Thị Mỹ Tiên (2026), Cơ chế giám sát và phối hợp liên ngành trong xử lý chuyển hướng theo Luật Tư pháp người chưa thành niên hiện nay, Tạp chí Giáo dục và Xã hội số 2 (Kỳ I), tr. 25.
Trong số này:
CẢI CÁCH TƯ PHÁP
• BẢO ĐẢM VAI TRÒ NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lưu Thị Ngọc Lan
1
• TƯ DUY, NHẬN THỨC MỚI VỀ CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO NGHIÊN CỨU, GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI
Võ Khánh Vinh, Võ Khánh Minh
7
• QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TƯ DUY XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trần Thị Quyên
19
NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
• NƠI CƯ TRÚ, LÀM VIỆC CỦA BỊ ĐƠN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Nguyễn Chí Hiếu
24
• LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG XẢY RA DO SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG
Nguyễn Tống Bảo Minh
31
• MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG CHỨNG ĐIỆN TỬ THEO LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2024
Nguyễn Văn Mích, Lại Thị Bích Ngà
37
• QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH VÀ KINH DOANH ONLINE, THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG CẢI CÁCH THEO CƠ CHẾ DỮ LIỆU VÀ DÒNG TIỀN
Cao Tấn Nho
43
• TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Nguyễn Mai Anh
48
• QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Hà Trọng Bắc, Nguyễn Trung Dương
54
• MẪU HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Nguyễn Mai Linh
60
• THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Đặng Tiến Đông, Tô Quang Anh
67
ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG
• CHUẨN HÓA TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN HÀNH NGHỀ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ QUẢN TÀI VIÊN - YẾU TỐ THEN CHỐT THỰC THI HIỆU QUẢ THỦ TỤC PHỤC HỒI VÀ PHÁ SẢN
Bùi Thị Hà
75
PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
• MÔ HÌNH GIÁO DỤC THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TẠI ÚC - KINH NGHIỆM CHO ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT TẠI VIỆT NAM
Đào Lệ Thu, Phạm Tiến Thành
81
• MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN THÁC TÀI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC Ở HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Châu Loan
89
• MÔ HÌNH PHÂN BỔ QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguyễn Hoài Thu
96
• XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI TỐ CÁO HỢP PHÁP - BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ ÚC VÀ HOA KỲ
Trần Vang Phủ, Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi
103
• HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI RỬA TIỀN TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT HOA KỲ
Đỗ Khánh Linh, Nguyễn Huệ Linh
109
• XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIỚI BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ - KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nguyễn Hà Chi, Nguyễn Minh Phương, Đỗ Phương Linh
115