HÔM NAY: Thứ năm 06/08/2026 15:27
HOTLINE: (024) 62873428 (1011-1036).

NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển đổi số, hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố ngày càng tinh vi, có xu hướng thâm nhập vào các lĩnh vực phi tài chính, trong đó có hoạt động công chứng. Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy hoạt động phòng chống rửa tiền trong lĩnh vực công chứng vẫn còn nhiều khoảng trống cả về thể chế, nhận thức và công cụ thực thi. Trên cơ sở xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng, của công chứng viên trong việc phòng, chống rửa tiền; đánh giá thực trạng rủi ro rửa tiền đồng thời tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền. Từ khóa: Công chứng; rửa tiền; “phòng, chống rửa tiền”; dữ liệu; giao dịch bất động sản. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026

ENHANCING THE EFFECTIVENESS OF ANTI-MONEY LAUNDERING IN NOTARIAL PRACTICE

Abstract: In the context of international economic integration and digital transformation, money laundering and terrorist financing activities are becoming increasingly sophisticated and are showing a growing tendency to infiltrate non-financial sectors, including notarial practice. In Vietnam, anti-money laundering efforts in the notarial sector still face significant gaps in terms of the legal framework, awareness, and implementation mechanisms. By identifying the responsibilities and obligations of notarial practice organizations and notaries in anti-money laundering efforts, assessing money laundering risks, and drawing on international experience, this article proposes several measures to enhance the effectiveness of anti-money laundering activities in the notarial sector. Keywords: Notarial practice; money laundering; anti-money laundering (AML); data; real estate transactions. Date of receipt: 20/4/2026 Date of revision: 10/6/2026 Date of approval: 16/7/2026

Đặt vấn đề: Trong nền kinh tế số, dòng tiền và tài sản có thể được luân chuyển nhanh chóng thông qua nhiều loại hình giao dịch phức tạp. Điều này tạo điều kiện cho các hoạt động rửa tiền phát sinh và phát triển. Hoạt động cung ứng dịch vụ công chứng là một trong các ngành nghề phi tài chính thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Phòng, chống rửa tiền (PCRT). Theo báo cáo kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền giai đoạn 2018 - 2022, nguy cơ rửa tiền trong hoạt động cung cấp dịch vụ công chứng là trung bình thấp3. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, hoạt động rửa tiền và tài trợ khủng bố (TTKB) ngày càng tinh vi, len lỏi vào nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có hoạt động công chứng. Với vai trò là thiết chế bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch, công chứng viên (CCV) và tổ chức hành nghề công chứng (TCHNCC) có vị trí quan trọng trong việc nhận diện, phòng ngừa và cảnh báo các giao dịch có dấu hiệu bất thường. Tuy nhiên, thực tiễn tại Việt Nam cho thấy việc triển khai các biện pháp PCRT trong lĩnh vực công chứng còn nhiều hạn chế, đòi hỏi phải được nghiên cứu, đánh giá và hoàn thiện.

1. Quy định pháp luật về phòng, chống rửa tiền liên quan đến hoạt động công chứng

Rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hoá nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có4. Hiểu cụ thể hơn theo quy định của Luật PCRT, rửa tiền là quá trình hợp thức hóa nguồn tiền, tài sản có được từ hoạt động phạm tội nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của chúng và đưa vào nền kinh tế như tài sản hợp pháp. Pháp luật Việt Nam đã từng bước ghi nhận nghĩa vụ PCRT đối với các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực phi tài chính, trong đó có công chứng. Các văn bản pháp luật trực tiếp liên quan đến lĩnh vực công chứng (Luật PCRT năm 2022, Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung ngày năm 2017, năm 2024, năm 2025), Nghị định số 19/2023/NĐ-CP ngày 28/4/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật PCRT, Quyết định số 11/2023/QĐ-TTg ngày 27/4/2023 của Thủ tướng Chính Phủ quy định mức giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo và Thông tư số 27/2025/TT NHNN ngày 19/5/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật PCRT) đã xác định các nghĩa vụ, trách nhiệm cơ bản của TCHNCC và CCV trong việc PCRT gồm: Thứ nhất, nhận biết khách hàng Nội dung quy định từ Điều 9 đến Điều 14 Luật PCRT xác định nhận biết khách hàng là nghĩa vụ nền tảng, nhận biết khách hàng phải gắn với việc làm rõ chủ sở hữu hưởng lợi. Thứ hai, giám sát giao dịch đặc biệt Song hành với nhận biết khách hàng là nghĩa vụ giám sát một số giao dịch đặc biệt. Nghĩa vụ này được quy định tại Điều 16, Điều 20 Luật PCRT và Điều 8 Nghị định số 19/2023/NĐ-CP. Theo đó, TCHNCC và CCV phải giám sát đối với giao dịch có giá trị lớn, bất thường hoặc phức tạp, cũng như giao dịch với tổ chức, cá nhân tại quốc gia, vùng lãnh thổ nằm trong danh sách do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố nhằm chống rửa tiền hoặc thuộc danh sách cảnh báo. Thứ ba, đánh giá rủi ro, quản lý rủi ro và xây dựng quy trình quản lý rủi ro Đây là nghĩa vụ được quy định tại Điều 9, Điều 15, Điều 16 Luật PCRT và Điều 3 Thông tư số 27/2025/TT-NHNN. Trong đó, tiêu chí đánh giá rủi ro gồm các tiêu chí nguy cơ rửa tiền từ môi trường kinh doanh và các tiêu chí nguy cơ rửa tiền từ chính hoạt động kinh doanh của tổ chức hành nghề công chứng; phương pháp đánh giá rủi ro được xác định là phương pháp chấm điểm trên cơ sở lượng hóa từng tiêu chí rủi ro. Trên cơ sở kết quả đánh giá rủi ro, TCHNCC phải xây dựng quy trình quản lý rủi ro. Quy trình này phải bao gồm việc phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro thấp, trung bình và cao; đồng thời xác định các biện pháp áp dụng tương ứng với từng mức độ rủi ro. Thứ tư, xây dựng quy định nội bộ và phân công người phụ trách công tác PCRT Điều 24 Luật PCRT quy định TCHNCC phải ban hành quy định nội bộ về PCRT với các nội dung chi tiết được hướng dẫn tại Điều 5 Thông tư số 27/2025/TT-NHNN. Thông tư này cũng đưa ra yêu cầu TCHNCC phải thành lập bộ phận chuyên trách hoặc chỉ định một bộ phận, một người chịu trách nhiệm; đồng thời phải phân công người chịu trách nhiệm về PCRT. Thứ năm, báo cáo giao dịch có giá trị lớn, giao dịch đáng ngờ Theo Điều 25 Luật PCRT, Điều 6 Thông tư số 27/2025/TT-NHNN thì mức giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo trong hoạt động công chứng là từ 400.000.000 đồng; giao dịch đáng ngờ được quy định tại các Điều từ 26 đến 33 Luật này, như: giao dịch được thực hiện theo yêu cầu của bị can, bị cáo, người bị kết án, số điện thoại do khách hàng cung cấp không thể liên lạc được, giao dịch mà khách hàng không cung cấp hoặc cung cấp không đúng thông tin nhận biết khách hàng; Thứ sáu, lưu trữ hồ sơ, bảo mật thông tin và cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền Điều 38 Luật PCRT quy định rõ loại hồ sơ, thông tin tài liệu phải lưu trữ cũng như thời hạn lưu trữ. Ngoài ra, nghĩa vụ tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và bảo mật thông tin nhận biết khách hàng đối với thông tin, hồ sơ, tài liệu, báo cáo liên quan đến các giao dịch phải báo cáo và các trường hợp được phép trao đổi, cung cấp, chuyển giao thông tin về PCRT cũng được quy định rõ tại Điều 40, Điều 42 và Điều 43 của Luật này.

2. Nguy cơ rửa tiền trong lĩnh vực công chứng

2.1. Nhận diện hành vi rửa tiền có thể phát sinh trong hoạt động công chứng

Với vai trò xác nhận tính hợp pháp, xác thực của hợp đồng, giao dịch và giấy tờ, tổ chức hành nghề công chứng có thể bị các đối tượng lợi dụng như một “bước hợp pháp hóa” nguồn tiền bất minh. Việc nhận diện các thủ đoạn rửa tiền có thể phát sinh trong hoạt động công chứng là yêu cầu quan trọng đối với đội ngũ CCV. Các đối tượng có thể sử dụng rất nhiều thủ đoạn rửa tiền thông qua các giao dịch được công chứng, trong đó có thể kể một số giao dịch điển hình sau: Một là, giao dịch mua bán nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Thông thường sẽ có hai khả năng gây nghi ngờ ngay là giá quá thấp hoặc quá cao. Trường hợp giá thấp hơn so với giá thị trường, mục đích trực tiếp là trốn thuế, nhưng xét dưới góc độ PCRT, đây là cách để bên mua đưa một lượng tiền “bẩn” lớn vào giao dịch mà không qua hệ thống ngân hàng, tránh bị kiểm soát bởi ngưỡng báo cáo giao dịch giá trị lớn. Trường hợp giá ghi trên hợp đồng cao bất thường, mục đích là để hợp thức hóa một số lượng tiền lớn sẽ có mà sau này, khi chuyển nhượng lại BĐS đó, toàn bộ số tiền thu về sẽ được hợp thức hóa bởi các văn bản công chứng (VBCC) hợp pháp. Ngoài ra, ngay cả khi không thuộc trường hợp giao dịch có giá bất thường, thì thực tế cho thấy, BĐS thường có giá trị lớn, tính thanh khoản tương đối tốt và dễ tạo ra sự biến động về giá, là điều kiện rất thuận lợi cho việc che giấu nguồn gốc tài sản. Đối tượng phạm tội có thể mua BĐS bằng tiền bất minh, sau đó bán lại hoặc chuyển nhượng lòng vòng để tạo ra dấu vết giao dịch hợp pháp. Trên giấy tờ, mọi việc đều có vẻ bình thường: có bên mua, bên bán, có VBCC và có đăng ký sang tên. Nhưng thực chất, đằng sau đó là quá trình biến đổi tiền bất hợp pháp thành tài sản hợp pháp hoặc tạo ra dòng tiền mang nguồn gốc “sạch”. Khi xuất hiện những dấu hiệu dưới đây, CCV cần lưu ý để có giải pháp đề phòng thủ đoạn rửa tiền thông qua giao dịch chuyển nhượng:- Giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng thấp hơn hoặc cao hơn giá thị trường một cách bất thường;- Bên nhận chuyển nhượng không quan tâm nhiều đến hiện trạng tài sản, vị trí địa lý, tình trạng pháp lý của tài sản mà thể hiện rõ mong muốn được xác lập giao dịch một cách nhanh chóng;- Có tình trạng mua đi bán lại cùng một tài sản trong thời gian ngắn;- Thanh toán số tiền lớn bằng phương thức trả tiền mặt hoặc bằng phương thức chuyển khoản nhưng từ nhiều tài khoản của nhiều người khác nhau… Hai là, xác lập giao dịch tặng cho, uỷ quyền nhằm che giấu chủ tài sản thực. Các đối tượng rửa tiền thường né tránh việc trực tiếp đứng tên sở hữu các tài sản để cắt đứt dòng vết (trail) của dòng tiền. Việc tặng cho tài sản giá trị lớn giữa những người không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc có mối quan hệ thân thiết rõ ràng thường là dấu hiệu nghi vấn. Đây thực chất là hình thức chuyển dịch tài sản mà không phát sinh dòng tiền qua ngân hàng, giúp bên nhận (đối tượng rửa tiền) sở hữu tài sản mà không cần chứng minh nguồn tiền mua. Đối với uỷ quyền, thay vì ký hợp đồng chuyển nhượng, các bên ký hợp đồng ủy quyền có thù lao với nội dung uỷ quyền toàn bộ các quyền của chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà cho bên được uỷ quyền. Thực chất đây là một giao dịch giả tạo để che đậy giao dịch chuyển nhượng. Đối tượng rửa tiền sử dụng văn bản ủy quyền để kiểm soát tài sản nhưng trên giấy tờ quyền sở hữu vẫn thuộc về người khác, gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền trong việc truy tìm và phong tỏa tài sản. Dấu hiệu để nhận biết thủ đoạn rửa tiền qua các giao dịch này có thể xác định gồm: - Các bên trong giao dịch tặng cho không hề có quan hệ họ hàng, thân thích (thậm chí là những người xa lạ, không biết nhau trước đó); rất khó lý giải nguyên nhân, động cơ để chuyển giao tài sản thông qua loại giao dịch này. - Khi bên được uỷ quyền thực hiện việc chuyển nhượng tài sản nhân danh bên uỷ quyền mà lại được nhận số tiền thu được từ việc chuyển nhượng;- Các bên trong giao dịch uỷ quyền có quan hệ thân thích hoặc có mối liên quan mật thiết với nhau. Ba là, chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần trong doanh nghiệp. Thủ đoạn ở đây có thể là đối tượng sử dụng tiền có nguồn gốc không minh bạch để mua lại phần vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp với giá cao vô lý. Thậm chí, có trường hợp, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ rõ ràng nhưng vẫn mua. Mục tiêu của các đối tượng là lợi dụng tính chất phức tạp của hoạt động kế toán; sau khi chuyển nhượng, doanh nghiệp sẽ sử dụng số tiền đó để thực hiện đầu tư, chi trả lương hoặc thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác. Qua hoạt động nhận chuyển nhượng này, tiền có nguồn gốc bất hợp pháp được đưa vào tài sản của doanh nghiệp. Cũng có thể các đối tượng thực hiện việc chuyển nhượng vốn góp cho cá nhân/tổ chức nước ngoài, dòng tiền có thể được chuyển ra khỏi biên giới dưới danh nghĩa thanh toán giá trị chuyển nhượng, làm mất dấu vết dòng tiền gốc trong nước. Đối với loại giao dịch này, CCV cần lưu ý các dấu hiệu sau:- Giao dịch phức tạp bất thường, không có mục đích kinh tế rõ ràng.- Có chủ thể tham gia giao dịch là cá nhân/tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức có cấu trúc sở hữu phức tạp nhưng không có sự giải trình hợp lý. Bốn là, sử dụng pháp nhân trung gian hoặc nhờ người đứng tên hộ. Đối với việc sử dụng pháp nhân trung gian (công ty ma), chủ thể có ý định rửa tiền sẽ thành lập doanh nghiệp nhưng không có hoạt động kinh doanh trên thực tế, chỉ sử dụng pháp nhân để ký các hợp đồng mua bán tài sản. Đối với thủ đoạn nhờ người đứng tên hộ, các đối tượng thường nhờ người lao động, sinh viên hoặc người thân ở vùng sâu vùng xa đứng tên trên các hợp đồng mua bán tài sản có giá trị lớn. Khi công chứng, các cá nhân này xuất hiện với tư cách bên mua, nhưng thực tế toàn bộ nguồn tiền đều do đối tượng tội phạm cung cấp. Điều này tạo ra một “hồ sơ sạch” cho tài sản, trong khi người đứng tên hoàn toàn không có khả năng tài chính tương xứng với giao dịch. Những dấu hiệu rất dễ nhận thấy đối với trường hợp này là: (1) Người đứng tên có thu nhập thấp nhưng lại mua tài sản có giá trị rất lớn so với khả năng tài chính của họ; (2) Là người ký hợp đồng nhưng người mua này lại không nắm rõ thông tin về tài sản đang giao dịch (như vị trí, hiện trạng, giá cả…); (3) Có người khác đi cùng chỉ đạo toàn bộ quá trình ký kết hợp đồng.

2.2. Nguyên nhân có thể phát sinh những giao dịch rửa tiền trong hoạt động công chứng

Thứ nhất, nguyên nhân khách quan Nguy cơ rửa tiền thông qua các giao dịch có yêu cầu công chứng có thể xuất hiện do các nguyên nhân sau: - Các đối tượng sử dụng phương thức thanh toán bằng tiền mặt. Khi đó sẽ khó kiểm soát được giá trị thực của hợp đồng. - Khó khăn trong việc kiểm soát tính phù hợp của giá chuyển nhượng: Giá trị thể hiện trong VBCC là do các bên thỏa thuận, một mặt pháp luật ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, mặt khác, CCV cũng không có cơ chế rõ ràng để kiểm soát được mức độ phù hợp của giá được ghi trong hợp đồng so với giá thực tế theo thị trường.- Thiếu cơ chế tiếp cận dữ liệu: CCV không có quyền truy cập đầy đủ vào cơ sở dữ liệu về tài sản, thuế, doanh nghiệp; Phụ thuộc vào thông tin do khách hàng cung cấp. - Chưa có cơ chế báo cáo hiệu quả: Quy định về báo cáo giao dịch đáng ngờ chưa rõ ràng, thiếu hướng dẫn cụ thể; CCV cũng có tâm lý e ngại trách nhiệm pháp lý hoặc ảnh hưởng đến khách hàng. - Xung đột giữa bảo mật và nghĩa vụ báo cáo: Hoạt động hành nghề của CCV yêu cầu bảo mật thông tin khách hàng. Trong khi đó PCRT yêu cầu chia sẻ thông tin, gây xung đột giữa nghĩa vụ bảo mật thông tin và nghĩa vụ báo cáo. Thứ hai, nguyên nhân chủ quan Hạn chế về nhận thức và kỹ năng, CCV chưa được đào tạo chuyên sâu về PCRT nên có thể xuất hiện tình trạng: - Kiến thức về PCRT của CCV còn hạn chế dẫn đến không nhận biết được các dấu hiệu các giao dịch đáng ngờ khi cung cấp dịch vụ;- Trong một số trường hợp, với kiến thức và kinh nghiệm của mình, CCV có thể nhận thấy một số dấu hiệu bất thường nhưng vẫn bỏ qua vì cho rằng PCRT không thuộc phạm vi nghĩa vụ của mình.

3. Kinh nghiệm và chuẩn mực quốc tế

Theo khuyến nghị của FATF, CCV thuộc nhóm DNFBPs5 và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về phòng, chống rửa tiền, đặc biệt là tiếp cận dựa trên rủi ro (risk-based approach). FATF đã xây dựng bộ 40 khuyến nghị, trong đó yêu cầu: Nhận biết khách hàng (KYC); Báo cáo giao dịch đáng ngờ; Minh bạch về chủ sở hữu hưởng lợi (beneficial ownership); Áp dụng cách tiếp cận dựa trên rủi ro (risk-based approach). Theo chuẩn mực của FATF, DNFBPs bao gồm các nhóm nghề nghiệp sau: Luật sư, CCV và các nghề pháp lý độc lập; Kế toán, kiểm toán; Môi giới bất động sản; Kinh doanh kim loại quý, đá quý; Nhà cung cấp dịch vụ thành lập, quản lý doanh nghiệp (trust/company service providers); Sòng bạc (casino). Các ngành này tuy không phải tổ chức tài chính nhưng tham gia trực tiếp vào các giao dịch giá trị lớn (bất động sản, doanh nghiệp), có khả năng hỗ trợ che giấu quyền sở hữu thực sự, đóng vai trò trung gian hợp thức hóa giao dịch. Do CCV thuộc nhóm DNFBPs, có vai trò không chỉ là người xác nhận giao dịch mà còn là “chốt kiểm soát rủi ro pháp lý”, có trách nhiệm nhận diện dấu hiệu rửa tiền trong giao dịch, góp phần bảo đảm minh bạch và an toàn của thị trường. Tại Pháp và Đức, CCV có quyền truy cập rộng vào các cơ sở dữ liệu tài sản và chịu nghĩa vụ báo cáo giao dịch đáng ngờ. Trong khi đó, Singapore đã tích hợp mạnh mẽ công nghệ số trong giám sát giao dịch và đào tạo bắt buộc về PCRT.

4. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền trong hoạt động công chứng

Trong bối cảnh các phương thức, thủ đoạn rửa tiền ngày càng tinh vi, đa dạng và có xu hướng lợi dụng các giao dịch dân sự hợp pháp để che giấu nguồn gốc tài sản bất minh, hoạt động công chứng đang trở thành một trong những lĩnh vực có nguy cơ bị lợi dụng đáng kể. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền trong hoạt động công chứng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trên cơ sở tuân thủ Luật PCRT năm 2022 và các văn bản có liên quan.

4.1. Hoàn thiện và thực thi nghiêm túc quy trình nhận biết khách hàng

Nhận biết khách hàng là giải pháp nền tảng, đồng thời là cơ sở để CCV thực hiện đầy đủ vai trò “người gác cổng” trong cơ chế phòng ngừa rửa tiền. Việc nhận biết khách hàng không chỉ dừng lại ở kiểm tra giấy tờ tùy thân của người tham gia ký kết giao dịch mà phải được thực hiện một cách toàn diện, thực chất và có chiều sâu. Theo đó, CCV cần áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để xác minh chủ thể hưởng lợi đích thực, tức là xác định cá nhân hoặc tổ chức thực sự kiểm soát tài sản, chi phối giao dịch hoặc được hưởng lợi cuối cùng từ giao dịch theo tinh thần của Thông tư số 27/2025/TT-NHNN. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong trường hợp người đứng tên giao dịch chỉ là đại diện hình thức hoặc người được nhờ đứng tên. Bên cạnh đó, CCV cần đánh giá mức độ phù hợp giữa năng lực tài chính của khách hàng với giá trị tài sản và quy mô giao dịch. Trường hợp xuất hiện sự chênh lệch bất thường, chẳng hạn người đứng tên giao dịch là sinh viên, lao động có thu nhập thấp nhưng tham gia mua bán bất động sản trị giá hàng chục tỷ đồng, cần tiến hành xác minh bổ sung và đặt ra các câu hỏi cần thiết về nguồn tiền, mục đích giao dịch cũng như mối quan hệ giữa các bên liên quan.

4.2. Thiết lập cơ chế liên thông dữ liệu và chia sẻ thông tin

Đặc điểm của hành vi rửa tiền là thường được che giấu thông qua nhiều giao dịch riêng lẻ, phân tán ở nhiều chủ thể và nhiều thời điểm khác nhau. Do đó, một tổ chức hành nghề công chứng đơn lẻ khó có khả năng nhận diện đầy đủ nếu không có cơ chế chia sẻ dữ liệu và phối hợp liên ngành. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống kết nối trực tuyến giữa cơ sở dữ liệu công chứng với cơ quan thuế, hệ thống ngân hàng, cơ quan đăng ký đất đai và cơ quan tài nguyên môi trường. Thông qua cơ chế này, CCV có thể tra cứu lịch sử biến động của tài sản, tần suất giao dịch, giá trị kê khai qua từng lần chuyển nhượng, từ đó kịp thời phát hiện các trường hợp một tài sản bị mua đi bán lại nhiều lần trong thời gian ngắn hoặc liên tục được ủy quyền cho nhiều người khác nhau. Đây là những dấu hiệu điển hình của giai đoạn “phân đoạn” trong quy trình rửa tiền. Song song với đó, cơ quan chuyên trách về phòng, chống rửa tiền cần thường xuyên cập nhật danh sách các cá nhân, tổ chức có mức độ rủi ro cao, đối tượng bị cảnh báo hoặc đang bị điều tra lên hệ thống quản lý công chứng. Cơ chế cảnh báo sớm sẽ hỗ trợ CCV nhận diện rủi ro ngay từ thời điểm tiếp nhận hồ sơ, qua đó nâng cao hiệu quả phòng ngừa. Nói tóm lại, cần có giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận dữ liệu cho CCV.

4.3. Phân loại giao dịch rủi ro cao và giám sát giao dịch tiền mặt

TCHNCC không thể xác định mọi giao dịch do CCV của tổ chức mình chứng nhận đều là đối tượng để giám sát, xác định xem có nguy cơ rửa tiền hay không. Thay vào đó, các TCHNCC nên phân loại giao dịch để CCV có trách nhiệm lưu ý đối với những giao dịch có rủi ro cao như hợp đồng mua bán, chuyển nhượng cổ phần hoặc bất động sản có yếu tố nước ngoài, các giao dịch liên quan đến người có tầm ảnh hưởng (nhất là những người có tầm ảnh hưởng trên các trang mạng xã hội trong điều kiện hiện nay). Bên cạnh đó, đối với những giao dịch mà các bên xác định phương thức thanh toán bằng tiền mặt, CCV cần có hướng dẫn, giải thích để các bên hiểu được hậu quả pháp lý phát sinh hoặc đưa ra khuyến nghị thực hiện việc thanh toán qua ngân hàng để đảm bảo tính minh bạch.

4.4. Tăng cường chế tài xử lý và công tác hậu kiểm

Hiệu quả của cơ chế phòng, chống rửa tiền phụ thuộc đáng kể vào tính nghiêm minh và khả năng răn đe của pháp luật. Nếu thiếu cơ chế xử lý đủ mạnh, các quy định về nhận biết khách hàng, báo cáo giao dịch đáng ngờ hoặc kiểm soát nội bộ sẽ khó được thực hiện nghiêm túc. Theo đó, cần áp dụng chặt chẽ các chế tài xử phạt theo 109/2026/NĐ-CP đối với CCV và TCHNCC có hành vi thiếu trách nhiệm, không thực hiện nghĩa vụ báo cáo giao dịch đáng ngờ hoặc cố tình bỏ qua các dấu hiệu bất thường như hợp đồng hai giá, kê khai giá chuyển nhượng không đúng thực tế. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là Sở Tư pháp ở địa phương, cần tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất đối với các hồ sơ công chứng có dấu hiệu rủi ro. Trọng tâm kiểm tra cần hướng đến các hợp đồng ủy quyền định đoạt tài sản, hợp đồng tặng cho giữa những người không cùng huyết thống hoặc các giao dịch phát sinh với tần suất bất thường

4.5. Nâng cao năng lực nhận diện hành vi rửa tiền cho công chứng viên

Cần tổ chức các chương trình tập huấn về tâm lý tội phạm, kỹ năng nhận diện giao dịch đáng ngờ và các phương thức rửa tiền mới, bao gồm việc sử dụng tài sản số, tiền ảo để mua bán bất động sản rồi hợp thức hóa thông qua hoạt động công chứng. Việc đào tạo không chỉ dừng ở lý thuyết pháp luật mà cần gắn với tình huống thực tế, kinh nghiệm quốc tế và kỹ năng xử lý hồ sơ cụ thể. Đồng thời, cần xây dựng bộ cẩm nang nghiệp vụ về các dấu hiệu cảnh báo đỏ (Red Flags) mang tính đặc thù trong lĩnh vực công chứng. Bộ cẩm nang này sẽ là công cụ tham chiếu nhanh, giúp CCV có cơ sở đối chiếu khi tiếp nhận yêu cầu công chứng và đưa ra quyết định phù hợp. CCV không phải là người có chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu về PCRT, nên việc xây dựng được Bộ cẩm nang sẽ rất thiết thực. Cẩm nang không cần có những nội dung phân tích, lý luận mà chỉ cần đưa ra các tình huống và tương ứng với mỗi tình huống sẽ có dấu hiệu nhận biết hoặc có thể suy đoán sẽ rơi vào thủ đoạn rửa tiền nào. Ví dụ như:

NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN
TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG

4.6. Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt

Một trong những điều kiện thuận lợi cho hoạt động rửa tiền là việc sử dụng tiền mặt với giá trị lớn, do khó kiểm soát và hạn chế khả năng truy vết. Vì vậy, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt là giải pháp mang tính căn cơ nhằm hạn chế rửa tiền trong các giao dịch tài sản. Cần kiến nghị cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu ban hành quy định bắt buộc các giao dịch chuyển nhượng bất động sản và các loại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng phải thực hiện thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng. Khi dòng tiền đi qua hệ thống tài chính chính thức, cơ quan quản lý có thể tự động giám sát, phân tích giao dịch bất thường và lưu vết đầy đủ quá trình thanh toán. Điều này không chỉ làm minh bạch giá trị giao dịch thực tế mà còn giảm đáng kể gánh nặng thẩm tra cho CCV.

Kết luận: PCRT trong lĩnh vực công chứng là yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch và bảo vệ hệ thống tài chính quốc gia. Việc hoàn thiện thể chế theo hướng hài hòa giữa minh bạch và bảo mật, giữa trao quyền và kiểm soát, là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu quả phòng ngừa rủi ro. Trong bối cảnh kinh tế số và hội nhập quốc tế, CCV cần được xác định rõ vai trò không chỉ là người xác nhận giao dịch mà còn là chủ thể quan trọng trong hệ thống phòng, chống rửa tiền quốc gia. CCV không chỉ là người xác nhận giao dịch mà còn là “chốt chặn pháp lý” quan trọng trong phòng ngừa rủi ro tài chính và tội phạm kinh tế. Việc hoàn thiện thể chế theo hướng trao quyền đi đôi với kiểm soát, minh bạch gắn với bảo mật, công nghệ gắn với trách nhiệm pháp lý sẽ là chìa khóa để nâng cao hiệu quả PCRT trong lĩnh vực công chứng tại Việt Nam, góp phần bảo đảm an ninh tài chính quốc gia và phát triển bền vững nền kinh tế./

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quốc hội (2022), Luật Phòng, chống rửa tiền.

2. World Bank (2020), Anti-Money Laundering and Counter-Terrorism Financing Measures: Comprehensive Frameworks and Implementation, Washington D.C.

3. Financial Action Task Force (FATF) (2012, amended 2019), International Standards on Combating Money Laundering and the Financing of Terrorism and Proliferation (FATF Recommen dations), Paris.

4. Council of Notariats of the European Union (CNUE) (2020), The Role of Notaries in the Fight Against Money Laundering, Brussels.

5. Council of Notariats of the European Union (CNUE) (2022), Anti-Money Laundering and the Notarial Profession in Europe, Brussels.

6. European Commission (2019), Supra national Risk Assessment of Money Laundering and Terrorist Financing Risks Affecting the Union, Brussels.

7. Navarro, J. (2021), Anti-Money Laundering Obligations of Notaries: A Comparative Study between Malta and Italy, University of Malta.

8. Council of Europe (2024), Guidelines on Risk-Based Supervision of DNFBPs (Lawyers and Notaries), Strasbourg.

9. Council of Europe (2023), Strengthening AML/CFT Compliance among Notaries and Legal Professionals, Strasbourg.

10. Federal Chamber of Notaries of Germany (2022), Anti-Money Laundering Compliance in Notarial Practice, Berlin.

Phạm Thị Thúy Hồng, Hoàng Mạnh Thắng

Bài liên quan

Tin bài khác

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA CÔNG CHỨC LÀM CÔNG TÁC HỘ TỊCH 
TRONG BỐI CẢNH TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA CÔNG CHỨC LÀM CÔNG TÁC HỘ TỊCH TRONG BỐI CẢNH TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ

Tóm tắt: Công chức làm công tác hộ tịch là lực lượng trực tiếp thực hiện công vụ trong lĩnh vực hộ tịch, góp phần bảo đảm các quyền con người, quyền công dân và nâng cao chất lượng phục vụ hành chính ở cơ sở. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà trước mắt và trọng tâm hiện nay là tái cấu trúc hệ thống pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, việc bảo đảm các điều kiện thực hiện công vụ cho đội ngũ này trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Bài viết sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật và nghiên cứu tài liệu để làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về bảo đảm điều kiện thực hiện công vụ của công chức làm công tác hộ tịch; phân tích những bất cập trong quy định pháp luật và thực tiễn tổ chức thực hiện trong bối cảnh chuyển đổi số. Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ yêu cầu hoàn thiện thể chế, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm các điều kiện thực hiện công vụ đối với đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch nhằm nâng cao chất lượng hoạt động hộ tịch, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và chuyển đổi số ở Việt Nam. Từ khóa: Công chức làm công tác hộ tịch; điều kiện thực hiện công vụ; chuyển đổi số; hộ tịch; cải cách hành chính. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁC CHỦ THỂ KIỂM SOÁT RỦI RO 
TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY FINTECH 
TRƯỚC BỐI CẢNH CÔNG NGHỆ SỐ

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁC CHỦ THỂ KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY FINTECH TRƯỚC BỐI CẢNH CÔNG NGHỆ SỐ

Tóm tắt: Trong bối cảnh Cách mạng 4.0 và chuyển đổi số, việc xác lập khung trách nhiệm pháp lý minh bạch cho các bên liên quan trong hoạt động thanh toán qua các công ty công nghệ tài chính (Fintech) là yêu cầu cấp thiết để duy trì ổn định hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích chế độ trách nhiệm pháp lý của các nhóm chủ thể kiểm soát rủi ro trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam qua ba giai đoạn kiểm soát, chỉ ra các hạn chế như: cơ chế bồi hoàn liên đới chưa rõ ràng, thiếu tiêu chí định lượng tổn thất, độ trễ công nghệ quản lý và sự chồng chéo giữa các nguồn luật. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy phạm pháp luật cho từng nhóm chủ thể, chuẩn hóa khung phân bổ nghĩa vụ theo tỷ lệ lỗi và số hóa công cụ giám sát trực tuyến nhằm bảo vệ người tiêu dùng, bảo đảm an ninh tài chính vĩ mô và thúc đẩy thị trường tài chính số phát triển bền vững. Từ khóa: Công nghệ số; Fintech, kiểm soát rủi ro; thanh toán; trách nhiệm pháp lý. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG KINH DOANH 
CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH TỪ THỰC TIỄN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG KINH DOANH CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH TỪ THỰC TIỄN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch, pháp luật về kinh doanh cơ sở lưu trú (KDCSLT) du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm quyền lợi của du khách. Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động KDCSLT, đồng thời chỉ ra những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý về KDCSLT, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế và chuyển đổi số hiện nay. Từ khóa: Kinh doanh cơ sở lưu trú; pháp luật du lịch; Thành phố Hồ Chí Minh; quản lý nhà nước. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG ĐIỀU KIỆN TỔ CHỨC 
MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG ĐIỀU KIỆN TỔ CHỨC MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP

Tóm tắt: Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 và sự hình thành siêu đô thị sau sáp nhập, việc hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích thực trạng thiếu tương thích giữa thẩm quyền đặc thù được mở rộng với năng lực thực thi và nguồn lực của bộ máy hiện hành khi không còn cấp trung gian. Từ đó, tác giả đề định hướng hoàn thiện tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt về tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh. Từ khóa: Chính quyền đô thị; phân cấp; chính quyền địa phương hai cấp; tổ chức bộ máy; Thành phố Hồ Chí Minh. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 78/2025/AL - RANH GIỚI PHÁP LÝ 
GIỮA “THÀNH VIÊN CÔNG TY” VÀ “NGƯỜI HỢP TÁC KINH DOANH”

BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 78/2025/AL - RANH GIỚI PHÁP LÝ GIỮA “THÀNH VIÊN CÔNG TY” VÀ “NGƯỜI HỢP TÁC KINH DOANH”

Tóm tắt: Mặc dù Luật Doanh nghiệp năm 2014, sau đó là Luật Doanh nghiệp năm 2020 (được sửa đổi, bổ sung các năm 2022, 2025), đã từng bước hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty, nhưng thực tiễn vẫn phát sinh nhiều tranh chấp liên quan đến việc góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH). Một trong những vấn đề phức tạp là khi một người góp tiền vào công ty, được chia lợi nhuận và tham gia một số quyền lợi như thành viên, nhưng tên lại không được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đồng thời công ty cũng không thực hiện thủ tục tăng vốn điều lệ theo quy định. Trước tình trạng thiếu nhất quán trong xét xử, Án lệ ra đời nhằm xác lập nguyên tắc giải quyết tranh chấp về góp vốn trong công ty TNHH, phân biệt rõ giữa góp vốn điều lệ (với mục đích trở thành thành viên công ty) và góp vốn kinh doanh (chỉ nhằm tăng cường nguồn lực tài chính và phân chia lợi nhuận). Bài viết này tập trung phân tích cơ sở pháp lý, nội dung, những tác động cũng như các bất cập của Án lệ, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng án lệ trong thực tiễn. Từ khóa: Án lệ 78; góp vốn; không có thỏa thuận về góp vốn điều lệ; góp vốn nhằm mục đích kinh doanh. Nhận bài: 20/3/2026 Hoàn thành biên tập: 20/5/2026 Duyệt đăng: 03/6/2026
ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
LUẬT SƯ CÔNG TẠI HỌC VIỆN TƯ PHÁP

ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LUẬT SƯ CÔNG TẠI HỌC VIỆN TƯ PHÁP

Tóm tắt: Trong bối cảnh các vụ kiện hành chính và tranh chấp đầu tư quốc tế gia tăng mạnh mẽ, việc triển khai thí điểm chế định Luật sư công (LSC) theo Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về việc thí điểm thực hiện chế định LSC (Nghị quyết số 24/2026/QH16) là bước đi chiến lược nhằm bảo vệ tối ưu lợi ích quốc gia và quyền lợi của Nhà nước. Bài viết tập trung nghiên cứu và đề xuất định hướng xây dựng khung chương trình đào tạo LSC tại Học viện Tư pháp. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng để chuẩn hóa lộ trình đào tạo, góp phần xây dựng nền quản trị công minh bạch và chuyên nghiệp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ khóa: Luật sư, luật sư công, khung chương trình, chương trình đào tạo. Nhận bài: 26/5/2026 Hoàn thành biên tập: 28/5/2026 Duyệt đăng: 03/6/2026
THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO LUẬT 
Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ

THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO LUẬT Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo trong những năm gần đây đang góp phần làm thay đổi môi trường giáo dục đại học trên phạm vi toàn cầu. Trong lĩnh vực đào tạo luật, nơi tư duy phản biện, năng lực lập luận và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp giữ vai trò trung tâm, những tác động này mang tính cấu trúc và lâu dài. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đào tạo luật, khảo sát thực trạng sử dụng công nghệ này của 714 sinh viên ngành luật tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Nghệ An, đồng thời nhận diện những thách thức đối với chất lượng và mục tiêu đào tạo luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy trí tuệ nhân tạo đã được sử dụng phổ biến trong hầu hết các hoạt động học tập, trong khi khung pháp lý và cơ chế quản lý học thuật chưa được hoàn thiện tương xứng. Trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng điều chỉnh chính sách và triết lý giáo dục nhằm bảo đảm việc tích hợp công nghệ diễn ra phù hợp với giá trị cốt lõi của nghề luật. Từ khóa: Trí tuệ nhân tạo; đào tạo luật; giáo dục pháp luật; liêm chính học thuật; chuyển đổi số. Nhận bài: 20/3/2026 Hoàn thành biên tập: 20/5/2026 Duyệt đăng: 03/6/2026
KIỂM SOÁT HIỆN TƯỢNG KÉO DÀI BẢO HỘ ĐỘC QUYỀN SÁNG CHẾ 
TRONG LĨNH VỰC DƯỢC PHẨM - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 
VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

KIỂM SOÁT HIỆN TƯỢNG KÉO DÀI BẢO HỘ ĐỘC QUYỀN SÁNG CHẾ TRONG LĨNH VỰC DƯỢC PHẨM - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Tóm tắt: Bảo hộ độc quyền sáng chế không chỉ là quy định mà còn thể hiện chính sách và sự khuyến khích của pháp luật dành cho sản phẩm sáng tạo đổi mới. Tuy nhiên, nội dung này chỉ phát huy đúng giá trị khi loại bỏ những yếu tố trục lợi từ các chủ thể có liên quan. Bài viết phân tích hiện tượng kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế (KDBHĐQSC), làm rõ ranh giới giữa đổi mới sáng tạo hợp pháp (legitimate innovation) và kéo dài độc quyền sáng chế (evergreening), khảo sát kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Ấn Độ trong việc kiểm soát sáng chế dược phẩm thứ cấp, đồng thời đánh giá thực trạng kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm hạn chế nguy cơ kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm nhưng vẫn bảo đảm động lực đổi mới sáng tạo và tuân thủ các cam kết quốc tế của Việt Nam. Từ khóa: Kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế; sáng chế dược phẩm; sáng chế thứ cấp; quyền tiếp cận thuốc; Luật Sở hữu trí tuệ; TRIPS. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI 
VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

Tóm tắt: Việc ban hành Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã ghi nhận một bước tiến quan trọng trong việc cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lao động và an sinh xã hội ở Việt Nam. Bài viết phân tích những điểm mới của Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Đồng thời đưa ra một số tác động của những quy định này đến thị trường nhân lực lao động Việt Nam, hướng đến nguồn nhân lực phát triển bền vững, thích ứng với yêu cầu của thời đại chuyển đổi số và quá trình hội nhập quốc tế. Từ khóa: Luật Việc làm; Luật Bảo hiểm xã hội; Thị trường lao động; An sinh xã hội; nguồn nhân lực. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 
CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế nền tảng đã làm gia tăng mạnh mẽ lực lượng người lao động (NLĐ) cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số tại Việt Nam. Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong thị trường lao động và nền kinh tế đô thị, nhóm lao động này đang đối mặt với tình trạng thu nhập thiếu ổn định, phụ thuộc lớn vào thuật toán và cơ chế chia sẻ doanh thu do doanh nghiệp nền tảng đơn phương quyết định, trong khi chưa được bảo vệ đầy đủ bởi pháp luật lao động và an sinh xã hội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về bảo đảm thu nhập trong bối cảnh lao động nền tảng, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến lao động, bảo hiểm xã hội (BHXH) và pháp luật chuyên ngành về vận tải - nền tảng số, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý hiện nay. Trên cơ sở tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thu nhập ổn định, công bằng và bền vững cho NLĐ nền tảng. Từ khóa: Người lao động nền tảng; bảo đảm thu nhập; kinh tế nền tảng; pháp luật lao động; an sinh xã hội. Nhận bài: 20/11/2025 Hoàn thành biên tập: 20/12/2025 Duyệt đăng: 16/7/2026
jvol
SỐ RA MỚI NHẤT

Trong số này:

CẢI CÁCH TƯ PHÁP
• BẢO ĐẢM VAI TRÒ NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lưu Thị Ngọc Lan
1
• TƯ DUY, NHẬN THỨC MỚI VỀ CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO NGHIÊN CỨU, GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI
Võ Khánh Vinh, Võ Khánh Minh
7
• QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TƯ DUY XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trần Thị Quyên
19

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
• NƠI CƯ TRÚ, LÀM VIỆC CỦA BỊ ĐƠN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Nguyễn Chí Hiếu
24
• LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG XẢY RA DO SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG
Nguyễn Tống Bảo Minh
31
• MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG CHỨNG ĐIỆN TỬ THEO LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2024
Nguyễn Văn Mích, Lại Thị Bích Ngà
37
• QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH VÀ KINH DOANH ONLINE, THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG CẢI CÁCH THEO CƠ CHẾ DỮ LIỆU VÀ DÒNG TIỀN
Cao Tấn Nho
43
• TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Nguyễn Mai Anh
48
• QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Hà Trọng Bắc, Nguyễn Trung Dương
54
• MẪU HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Nguyễn Mai Linh
60

• THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Đặng Tiến Đông, Tô Quang Anh
67

ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG
• CHUẨN HÓA TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN HÀNH NGHỀ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ QUẢN TÀI VIÊN - YẾU TỐ THEN CHỐT THỰC THI HIỆU QUẢ THỦ TỤC PHỤC HỒI VÀ PHÁ SẢN
Bùi Thị Hà
75
PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
• MÔ HÌNH GIÁO DỤC THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TẠI ÚC - KINH NGHIỆM CHO ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT TẠI VIỆT NAM
Đào Lệ Thu, Phạm Tiến Thành
81
• MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN THÁC TÀI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC Ở HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Châu Loan
89
• MÔ HÌNH PHÂN BỔ QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguyễn Hoài Thu
96
• XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI TỐ CÁO HỢP PHÁP - BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ ÚC VÀ HOA KỲ
Trần Vang Phủ, Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi
103
• HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI RỬA TIỀN TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT HOA KỲ
Đỗ Khánh Linh, Nguyễn Huệ Linh
109
• XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIỚI BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ - KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nguyễn Hà Chi, Nguyễn Minh Phương, Đỗ Phương Linh
115