HÔM NAY: Thứ năm 06/08/2026 13:50
HOTLINE: (024) 62873428 (1011-1036).

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế nền tảng đã làm gia tăng mạnh mẽ lực lượng người lao động (NLĐ) cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số tại Việt Nam. Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong thị trường lao động và nền kinh tế đô thị, nhóm lao động này đang đối mặt với tình trạng thu nhập thiếu ổn định, phụ thuộc lớn vào thuật toán và cơ chế chia sẻ doanh thu do doanh nghiệp nền tảng đơn phương quyết định, trong khi chưa được bảo vệ đầy đủ bởi pháp luật lao động và an sinh xã hội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về bảo đảm thu nhập trong bối cảnh lao động nền tảng, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến lao động, bảo hiểm xã hội (BHXH) và pháp luật chuyên ngành về vận tải - nền tảng số, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý hiện nay. Trên cơ sở tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thu nhập ổn định, công bằng và bền vững cho NLĐ nền tảng. Từ khóa: Người lao động nền tảng; bảo đảm thu nhập; kinh tế nền tảng; pháp luật lao động; an sinh xã hội. Nhận bài: 20/11/2025 Hoàn thành biên tập: 20/12/2025 Duyệt đăng: 16/7/2026

IMPROVING THE LEGAL FRAMEWORK ON INCOME PROTECTION FOR WORKERS PROVIDING PASSENGER TRANSPORT SERVICES THROUGH DIGITAL PLATFORMS

Abstract: The rapid development of the platform economy has significantly increased the number of workers providing passenger transportation services through digital platforms in Vietnam. Despite playing an important role in the labor market and urban economy, these workers are facing unstable income conditions, heavily dependent on algorithms and revenue-sharing mechanisms unilaterally determined by platform enterprises, while not being adequately protected by labor law and social security regulations. This article analyzes the theoretical foundations of income protection in the context of platform labor, examines the current state of Vietnamese law relating to labor, social insurance, and sector-specific regulations on transportation and digital platforms, thereby identifying existing legal gaps in protection. Based on comparative references to international experience, the article proposes several recommendations for improving the legal framework in order to ensure stable, fair, and sustainable income protection for platform workers. Keywords: Platform workers; income protection; platform economy; labor law; social security. Date of receipt: 20/11/2025 Date of revision: 20/12/2025 Date of approval: 16/7/2026

Đặt vấn đề: Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nền tảng đã thúc đẩy sự hình thành một phân khúc quan trọng trong thị trường lao động Việt Nam: dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số. Lực lượng lao động này không chỉ đóng vai trò then chốt trong việc đáp ứng nhu cầu di chuyển của xã hội mà còn tạo ra giá trị kinh tế đáng kể cho các doanh nghiệp công nghệ. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành cho thấy một nghịch lý pháp lý: đằng sau sự linh hoạt về thời gian là tình trạng thu nhập thiếu ổn định và sự lệ thuộc sâu sắc vào hệ thống thuật toán, cơ chế định giá cùng tỷ lệ chiết khấu do doanh nghiệp nền tảng đơn phương thiết lập. Hệ thống pháp luật hiện hành, tiêu biểu là Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019 và Luật BHXH, vẫn chủ yếu dựa trên mô hình quan hệ lao động (QHLĐ) truyền thống với các tiêu chí nhận diện cứng nhắc, chưa theo kịp sự chuyển dịch sang các mô hình lao động phi truyền thống. Điều này tạo ra một “khoảng trống bảo vệ” khiến NLĐ nền tảng, dù có mức độ phụ thuộc kinh tế và tổ chức cao, vẫn đứng ngoài các cơ chế bảo đảm thu nhập tối thiểu và mạng lưới an sinh xã hội thiết yếu. Trước những thách thức về công bằng xã hội và trật tự quản trị thị trường lao động, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện khung pháp lý về bảo đảm thu nhập cho nhóm đối tượng này trở thành một yêu cầu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết. Để giải quyết các vấn đề nêu trên, bài viết sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành: phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh luật học.

1. Một số vấn đề chung về bảo đảm thu nhập cho người lao động cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số

Trong bối cảnh phát triển của kinh tế nền tảng, NLĐ cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số được hiểu là cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động vận chuyển hành khách theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ, trên cơ sở kết nối thông qua ứng dụng số do doanh nghiệp nền tảng thiết lập và vận hành. NLĐ sử dụng phương tiện lao động của mình, được trả thù lao theo từng chuyến đi hoặc theo các cơ chế do nền tảng quy định, đồng thời chịu sự điều phối, giám sát và kiểm soát nhất định từ doanh nghiệp nền tảng thông qua hệ thống công nghệ và thuật toán3. Về mặt pháp lý, đây là nhóm chủ thể có vị trí đặc thù, nằm ở “vùng giao thoa” giữa lao động làm công ăn lương và “lao động tự doanh” (self employment). Mặc dù không giao kết hợp đồng lao động theo hình thức truyền thống, NLĐ nền tảng vẫn thể hiện các dấu hiệu cơ bản của QHLĐ theo nghĩa bản chất, đặc biệt là sự phụ thuộc kinh tế và sự lệ thuộc trong tổ chức, quản lý công việc. Doanh nghiệp nền tảng không chỉ đóng vai trò trung gian kết nối mà còn trực tiếp chi phối các yếu tố cốt lõi của quá trình lao động như giá cước, tỷ lệ chia sẻ doanh thu, phân phối chuyến đi và đánh giá hiệu suất thông qua thuật toán. Từ đó, có thể khái quát các đặc điểm pháp lý chủ yếu của NLĐ nền tảng: (i) QHLĐ phi truyền thống, không được xác lập bằng hợp đồng lao động điển hình nhưng tồn tại sự phụ thuộc đáng kể về kinh tế và tổ chức lao động4; (ii) sự phụ thuộc chặt chẽ vào nền tảng công nghệ và thuật toán như một hình thức hiện đại của quyền quản lý lao động; và (iii) tính linh hoạt cao về thời gian làm việc đi kèm với thu nhập thiếu ổn định, dễ bị tổn thương trước nghề nghiệp. Trong khoa học pháp lý, bảo đảm thu nhập không chỉ được hiểu là việc NLĐ có nguồn thu từ hoạt động lao động, mà còn bao hàm các yêu cầu pháp lý về tính thường xuyên, ổn định và mức độ thỏa đáng của thu nhập, đủ để bảo đảm đời sống và tái sản xuất sức lao động. Cách tiếp cận này phản ánh bản chất bảo hộ của pháp luật lao động và gắn liền với quyền được làm việc, hưởng thù lao công bằng của NLĐ5. Theo các tiêu chí nhận diện QHLĐ của Khuyến nghị số 198 (2006) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thu nhập trong QHLĐ là nguồn thu nhập mang tính thường xuyên, ổn định và có ý nghĩa chủ yếu đối với đời sống NLĐ, không phải là khoản thu nhập vãng lai hay ngẫu nhiên6. Thu nhập, vì vậy, không chỉ là kết quả kinh tế của hoạt động lao động, mà còn là căn cứ quan trọng để xác định mức độ phụ thuộc kinh tế và nhu cầu bảo hộ pháp lý đối với NLĐ. Đối chiếu với NLĐ cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số, có thể thấy thu nhập của họ dù được hình thành dưới dạng tiền công theo chuyến đi và các khoản thưởng hiệu suất thì vẫn là nguồn thu nhập chính, thường xuyên và mang tính quyết định đối với đời sống, đặc biệt đối với những người làm việc toàn thời gian hoặc gần toàn thời gian trên nền tảng. Do đó, xét về bản chất, đây không phải là thu nhập vãng lai của người làm việc theo diện đối tác độc lập, mà có nhiều điểm tương đồng với thu nhập trong QHLĐ theo nghĩa pháp lý7. Tuy nhiên, khác với thu nhập của NLĐ trong các QHLĐ điển hình, thu nhập của NLĐ nền tảng chịu sự chi phối mạnh mẽ của thuật toán, cơ chế định giá và tỷ lệ khấu trừ do doanh nghiệp nền tảng đơn phương quyết định, dẫn đến tình trạng thiếu ổn định, khó dự báo và không được bảo đảm bằng các chuẩn mực pháp lý tối thiểu. Chính sự thiếu vắng các cơ chế bảo đảm này làm gia tăng rủi ro kinh tế đối với NLĐ, đồng thời đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận bảo đảm thu nhập như một vấn đề có ý nghĩa không chỉ đối với cá nhân NLĐ, mà còn đối với doanh nghiệp nền tảng và lợi ích công trong quản trị thị trường lao động. Việc bảo đảm thu nhập cho NLĐ nền tảng nói chung và NLĐ cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh kinh tế nền tảng phát triển mạnh mẽ, bởi đây không chỉ là vấn đề bảo vệ quyền lợi cá nhân của NLĐ mà còn gắn liền với yêu cầu cân bằng lợi ích giữa ba chủ thể trung tâm của thị trường lao động: NLĐ, doanh nghiệp nền tảng và Nhà nước. Khuôn khổ pháp lý chưa đầy đủ và minh bạch về bảo đảm thu nhập đang tạo ra nhiều hệ quả tiêu cực, đặt ra thách thức lớn đối với quản trị thị trường lao động và bảo đảm an sinh xã hội trong dài hạn. Thứ nhất, đối với doanh nghiệp nền tảng, việc thiết lập các chuẩn mực pháp lý rõ ràng về bảo đảm thu nhập cho NLĐ là điều kiện cần thiết để hướng tới sự phát triển ổn định và bền vững. Trong ngắn hạn, việc vận hành trong “vùng xám pháp lý” có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí, đặc biệt là các chi phí liên quan đến an sinh xã hội và chia sẻ rủi ro nghề nghiệp. Tuy nhiên, về dài hạn, sự thiếu rõ ràng này tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý, làm gia tăng nguy cơ tranh chấp, xung đột lợi ích và gây bất ổn cho môi trường kinh doanh. Một khuôn khổ pháp lý minh bạch về bảo đảm thu nhập không chỉ giúp doanh nghiệp xác lập rõ quyền và nghĩa vụ của mình, mà còn tạo cơ sở để hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn, nâng cao uy tín và trách nhiệm xã hội trong bối cảnh yêu cầu tuân thủ pháp luật ngày càng được đề cao. Thứ hai, từ góc độ bảo vệ NLĐ, bảo đảm thu nhập là yếu tố then chốt nhằm khắc phục vị thế bất lợi của NLĐ nền tảng trong quan hệ với doanh nghiệp. NLĐ cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số là nhóm lao động chịu sự phụ thuộc đáng kể vào nền tảng công nghệ và thuật toán trong việc phân phối công việc, xác định mức thu nhập và đánh giá hiệu suất. Trong điều kiện thiếu cơ chế pháp lý ràng buộc, NLĐ hầu như không có khả năng thương lượng về các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập như giá cước, tỷ lệ chia sẻ doanh thu hay cơ chế thưởng - phạt. Bên cạnh đó, do không được thừa nhận đầy đủ là chủ thể của QHLĐ theo cấu trúc truyền thống, phần lớn NLĐ nền tảng đứng ngoài hệ thống an sinh xã hội, không được bảo đảm các quyền lợi cơ bản khi gặp rủi ro về sức khỏe, tai nạn hoặc mất khả năng lao động. Do đó, việc thiết lập cơ chế pháp lý bảo đảm thu nhập không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi kinh tế hợp pháp của NLĐ, mà còn tạo điều kiện cải thiện đời sống, giảm thiểu rủi ro và nâng cao mức độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội. Thứ ba, xét từ góc độ lợi ích công và quản trị thị trường lao động, bảo đảm thu nhập cho NLĐ nền tảng có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì công bằng và trật tự xã hội. Khi doanh nghiệp nền tảng không phải gánh chịu các nghĩa vụ liên quan đến bảo đảm thu nhập và an sinh do họ được xác định là “đối tác độc lập”8, phần lớn rủi ro nghề nghiệp có xu hướng bị chuyển dịch sang NLĐ và Nhà nước. Điều này không chỉ làm gia tăng tình trạng “lọt lưới an sinh”, mà còn tạo ra sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp nền tảng và các doanh nghiệp vận tải truyền thống - những chủ thể vẫn phải tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ theo pháp luật lao động. Về lâu dài, nếu không có sự can thiệp kịp thời của pháp luật, công nghệ có thể trở thành công cụ hợp thức hóa các hình thức bóc lột mới, làm suy giảm các giá trị bảo vệ lao động đã được thiết lập trong nhiều thập kỷ và gây bất ổn cho thị trường lao động cũng như xã hội.

2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm thu nhập cho người lao động cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách qua nền tảng số

Thứ nhất, quy định của pháp luật lao động Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019 tiếp cận QHLĐ theo bản chất thay vì hình thức, xác định hợp đồng lao động dựa trên ba dấu hiệu cơ bản: có việc làm được trả công, có sự quản lý, điều hành của một bên và sự phụ thuộc của bên còn lại9. Cách tiếp cận này tạo cơ sở để mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các mô hình lao động nền tảng10. Trên thực tế, doanh nghiệp nền tảng quyết định hầu hết các yếu tố chi phối thu nhập của tài xế như giá cước, tỷ lệ chiết khấu, cơ chế thưởng - phạt và việc phân phối chuyến xe thông qua thuật toán. Ví dụ, với mỗi chuyến xe, tài xế phải chịu một mức khấu trừ cao cho doanh nghiệp nền tảng (lên tới 30-40%).11 Đặc biệt, những chính sách này có thể thay đổi bất kỳ lúc nào mà không cần thương lượng hoặc tham khảo ý kiến tài xế12. Điều đó có nghĩa là tài xế gần như không có khả năng thương lượng về thu nhập của mình, do tính chất lệ thuộc kinh tế và lệ thuộc vào thuật toán vốn là hai đặc điểm điển hình của QHLĐ nền tảng13. Có thể thấy, các quy định của BLLĐ vẫn chưa được áp dụng hiệu quả do quan hệ giữa doanh nghiệp nền tảng và tài xế thường được xác lập dưới dạng hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc hợp đồng dịch vụ. Việc thiếu tiêu chí cụ thể để nhận diện QHLĐ trong môi trường quản lý bằng thuật toán khiến nhóm lao động này chưa được hưởng các cơ chế bảo vệ về tiền lương tối thiểu, nguyên tắc trả lương, giới hạn khấu trừ thu nhập và bảo đảm thu nhập. Pháp luật cũng chưa đặt ra nghĩa vụ bảo đảm mức thu nhập tối thiểu hoặc hạn chế quyền đơn phương điều chỉnh các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của doanh nghiệp nền tảng14, dẫn đến thu nhập của tài xế thiếu ổn định15 và phần lớn rủi ro được chuyển sang chính các tài xế16. Thứ hai, quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội (BHXH) và an sinh Hệ thống BHXH hiện hành vẫn được xây dựng trên nền tảng QHLĐ truyền thống. Theo Luật BHXH năm 2024, tài xế nền tảng không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc mà chủ yếu được xếp vào nhóm “người làm việc không có quan hệ lao động”, do pháp luật chưa xác lập rõ địa vị pháp lý của doanh nghiệp nền tảng với tư cách người sử dụng lao động17. Trong khuôn khổ đó, cơ chế bảo vệ an sinh đối với nhóm lao động này chủ yếu được thực hiện thông qua BHXH tự nguyện. Tuy nhiên, BHXH tự nguyện chỉ bảo vệ các rủi ro dài hạn và toàn bộ nghĩa vụ đóng bảo hiểm do NLĐ tự chi trả. Với thu nhập bấp bênh, nhiều tài xế không đủ khả năng tham gia thường xuyên. Đồng thời, họ cũng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp nên không có cơ chế bảo đảm thu nhập khi mất việc hoặc bị nền tảng ngừng phân phối công việc. Điều này cho thấy hệ thống an sinh hiện hành chưa theo kịp sự phát triển của lao động nền tảng và chưa bảo đảm chia sẻ rủi ro hợp lý giữa doanh nghiệp nền tảng với NLĐ18. Thực tế, khả năng duy trì tham gia BHXH tự nguyện của NLĐ nền tảng vì vậy ở mức rất thấp, thể hiện rõ qua tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện của lao động phi chính thức nói chung còn hết sức khiêm tốn19. Từ góc độ bảo đảm thu nhập, có thể thấy pháp luật về BHXH và an sinh hiện hành chưa theo kịp sự dịch chuyển của thị trường lao động sang các mô hình phi truyền thống. Việc duy trì cách tiếp cận dựa gần như hoàn toàn vào QHLĐ truyền thống đã tạo ra “khoảng trống” bảo vệ đáng kể đối với NLĐ nền tảng, đồng thời làm gia tăng nguy cơ chuyển dịch rủi ro thu nhập từ doanh nghiệp nền tảng sang cá nhân NLĐ và hệ thống an sinh xã hội20. Thứ ba, quy định pháp luật chuyên ngành về vận tải và nền tảng số Mặc dù Luật Giao thông đường bộ năm 2008 và Luật Đường bộ năm 2024, Nghị định số 10/2020/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn khác thừa nhận mô hình vận tải công nghệ và trao cho doanh nghiệp nền tảng quyền quản lý giá cước, phân phối chuyến xe và cơ chế thưởng - phạt, pháp luật chưa quy định nghĩa vụ bảo đảm thu nhập, giới hạn mức chiết khấu hoặc trách nhiệm chia sẻ rủi ro thu nhập với tài xế. Đồng thời, Luật Giao dịch điện tử năm 2023 cũng chưa đặt ra yêu cầu về minh bạch thuật toán và trách nhiệm giải trình đối với các quyết định ảnh hưởng đến thu nhập. Các đạo luật như Luật Giá năm 2023 và Luật Cạnh tranh năm 2018 chủ yếu hướng đến bảo vệ người tiêu dùng và cạnh tranh thị trường, chưa được thiết kế để điều chỉnh việc phân chia giá trị và rủi ro thu nhập giữa doanh nghiệp nền tảng và NLĐ. Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Thương mại năm 2005 thường được viện dẫn để định danh quan hệ giữa doanh nghiệp nền tảng và NLĐ là quan hệ hợp tác kinh doanh, qua đó làm “phi lao động hóa” thu nhập và đẩy NLĐ ra ngoài các cơ chế bảo vệ của pháp luật lao động và an sinh xã hội. Từ góc độ bảo đảm thu nhập, có thể thấy pháp luật chuyên ngành hiện hành thiếu vắng các chuẩn mực pháp lý tối thiểu đối với những yếu tố quyết định thu nhập của NLĐ nền tảng. Khoảng trống này khiến thu nhập của NLĐ cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số rơi vào tình trạng khó kiểm chứng, khó dự báo và dễ bị điều chỉnh đơn phương, đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường minh bạch, giới hạn quyền đơn phương và xác lập trách nhiệm pháp lý rõ ràng của doanh nghiệp nền tảng21.

3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo đảm thu nhập cho người lao động cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số

Thứ nhất, cần hoàn thiện quy định về địa vị pháp lý của NLĐ nền tảng Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế pháp lý nhận diện QHLĐ trong bối cảnh kinh tế nền tảng, theo hướng coi trọng bản chất phụ thuộc hơn hình thức hợp đồng. Pháp luật cần cụ thể hóa các tiêu chí quyền quyết định giá cước, phân phối công việc, cơ chế thưởng - phạt và quản lý bằng thuật toán của doanh nghiệp nền tảng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong trường hợp tồn tại mức độ kiểm soát đáng kể, pháp luật có thể suy đoán QHLĐ hoặc thừa nhận một nhóm chủ thể trung gian nhằm mở rộng bảo vệ cho NLĐ nền tảng22 23. Việt Nam có thể tiếp cận theo hướng bổ sung vào BLLĐ năm 2019 một nhóm đối tượng mới với tên gọi “người làm việc phụ thuộc kinh tế” (economically dependent worker) hoặc “NLĐ nền tảng”, áp dụng đối với các trường hợp: tài xế chịu sự chi phối đáng kể của doanh nghiệp nền tảng về giá cước, chiết khấu và điều kiện tiếp cận công việc; tài xế làm việc thường xuyên, tạo doanh thu chủ đạo cho nền tảng; doanh nghiệp sử dụng thuật toán nhằm quản lý hiệu suất của tài xế. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm sự linh hoạt của mô hình kinh doanh, vừa tạo nền tảng pháp lý để áp dụng các chế độ bảo vệ tối thiểu theo pháp luật lao động như thu nhập tối thiểu, thời giờ làm việc hợp lý và an toàn lao động. Cách tiếp cận này cho phép mở rộng phạm vi bảo vệ pháp luật lao động theo mức độ phụ thuộc, thay vì theo mô hình hợp đồng truyền thống. Thứ hai, cần hoàn thiện cơ chế bảo đảm thu nhập Một trong những giải pháp trọng tâm là xây dựng cơ chế bảo đảm thu nhập tối thiểu hoặc ngưỡng thu nhập bảo đảm đối với NLĐ cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số. Ngưỡng thu nhập này có thể được thiết kế linh hoạt, không nhất thiết đồng nhất với tiền lương tối thiểu trong QHLĐ truyền thống, nhưng phải đủ để bảo đảm nhu cầu sống cơ bản sau khi đã trừ các chi phí hợp lý gắn với hoạt động lao động. Việc xác định ngưỡng thu nhập này cần tính đến các yếu tố như tiêu chí phân cuốc, cơ chế định giá cước và hệ thống đánh giá tài xế24. Ngoài ra, việc đặt trần chiết khấu cũng là biện pháp đang được nhiều quốc gia thực hiện để bảo đảm sự công bằng kinh tế25. Bên cạnh đó, cần minh bạch hóa cơ chế chia sẻ doanh thu và thuật toán, thông qua nghĩa vụ công khai cấu phần thu nhập, nguyên tắc phân bổ chuyến đi và tiêu chí đánh giá hiệu suất. Minh bạch không nhằm can thiệp sâu vào mô hình kinh doanh, mà để bảo đảm NLĐ có khả năng dự báo thu nhập và kiểm soát rủi ro. Đồng thời, pháp luật cần kiểm soát các khoản khấu trừ, thông qua việc giới hạn tỷ lệ khấu trừ tối đa và yêu cầu có căn cứ rõ ràng, tránh biến khấu trừ thành công cụ chuyển toàn bộ rủi ro kinh doanh sang phía NLĐ. Song song với đó, Việt Nam cần thiết lập cơ chế tham vấn bắt buộc giữa doanh nghiệp và tổ chức đại diện tài xế trước khi thay đổi các chính sách liên quan đến thu nhập. Kinh nghiệm từ Thái Lan với ứng dụng Nong Khoei Ma Thao Rai cho thấy việc bảo đảm minh bạch trong tiếp cận cuốc xe và quản lý giá cước có thể nâng cao sự công bằng trong hệ thống26. Thứ ba, cần tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp nền tảng Doanh nghiệp nền tảng cần được xác định là chủ thể có trách nhiệm pháp lý tương xứng với mức độ kiểm soát mà họ thực hiện đối với quá trình lao động và thu nhập. Theo đó, pháp luật cần quy định nghĩa vụ công khai thông tin về cách tính thù lao, thay đổi chính sách giá, tỷ lệ chia sẻ doanh thu và cơ chế xử lý khi tài khoản bị hạn chế hoặc chấm dứt. Bên cạnh đó, cần từng bước thiết lập cơ chế đóng góp an sinh xã hội của doanh nghiệp nền tảng, ít nhất đối với nhóm NLĐ có mức độ gắn bó thường xuyên và phụ thuộc kinh tế cao. Việc chia sẻ trách nhiệm an sinh không chỉ góp phần bảo đảm thu nhập và giảm rủi ro cho NLĐ, mà còn hạn chế tình trạng chuyển dịch gánh nặng an sinh từ doanh nghiệp sang Nhà nước và xã hội. Thứ tư, tăng cường vai trò của Nhà nước và tổ chức đại diện NLĐ Nhà nước cần tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp nền tảng, đặc biệt đối với các vấn đề liên quan đến thu nhập, khấu trừ và điều kiện lao động, với phương thức phù hợp đặc thù quản lý bằng thuật toán và dữ liệu số. Đồng thời, cần phát huy vai trò của các tổ chức đại diện NLĐ, nhất là các nghiệp đoàn cơ sở theo Luật Công đoàn năm 2024, nhằm tạo điều kiện cho NLĐ nền tảng được tổ chức, đại diện và tham gia đối thoại. Đây là tiền đề quan trọng để hình thành cơ chế thương lượng tập thể về thu nhập và chia sẻ rủi ro, góp phần xây dựng QHLĐ hài hòa, ổn định và công bằng trong bối cảnh kinh tế số.

Kết luận: Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế nền tảng đã tạo ra cơ hội việc làm mới nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với việc bảo đảm thu nhập cho NLĐ cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số. Qua phân tích lý luận và thực trạng pháp luật Việt Nam, có thể thấy rằng khuôn khổ pháp lý hiện hành vẫn chủ yếu được thiết kế dựa trên mô hình QHLĐ truyền thống, do đó chưa bao quát đầy đủ đặc thù của lao động nền tảng. Điều này dẫn đến khoảng trống đáng kể trong việc bảo vệ thu nhập và an sinh xã hội đối với nhóm lao động này. Trên cơ sở tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, việc hoàn thiện pháp luật cần tập trung vào việc xác định rõ địa vị pháp lý của NLĐ nền tảng, thiết lập cơ chế bảo đảm thu nhập minh bạch và tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp nền tảng. Những cải cách này không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi của NLĐ mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường lao động trong bối cảnh kinh tế số./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Jeremias Prassl (2018), Humans as a Service: The Promise and Perils of Work in the Gig Economy, Oxford University Press, pp. 99 - 102.

2. Người bán hàng rong, xe ôm “phơi” nắng mưu sinh, bác sỹ cảnh báo sốc nhiệt, https:// gialaitv.vn/vh-xa-hoi/nguoi-ban-hang-rong-xe om-phoi-nang-muu-sinh-bac-sy-canh-bao-soc nhiet/, truy cập ngày 11/11/2025.

3. Nguyễn Đoàn Anh Tuấn, Nguyễn Lê Minh Mẫn, H Sian Êban (2025), Thực trạng pháp luật về bảo vệ người lao động trong nền kinh tế nền tảng và một số kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, https://tapchitoaan.vn/thuc trang-phap-luat-ve-bao-ve-nguoi-lao-dong-trong nen-kinh-te-nen-tang-va-mot-so-kien-nghi-hoan thien13359.html, truy cập ngày 06/01/2025.

4. Trần Thị Thúy Lâm, Đỗ Hà Anh (2025), Chuyên đề “Bảo đảm quyền lợi của người lao động trong mô hình kinh tế chia sẻ theo pháp luật lao động Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo trọng điểm cấp trường “80 năm Pháp luật Kinh tế”, Trường Đại học Luật Hà Nội.

5. Uber BV v Aslam, UK Supreme Court, 2021.

6. Vũ Thị Tú Linh (2025), Pháp luật về bảo vệ người lao động trong mô hình kinh tế gig Trung Quốc và một số gợi mở đối với Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, kỳ 2 (425), tháng 3, tr. 58 - 64.

Đỗ Hà Anh, Vương Nghi Kỳ

Bài liên quan

Tin bài khác

BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC 
CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

Tóm tắt: Sự bùng nổ của nền kinh tế số làm xuất hiện Hợp đồng lao động điện tử (HĐLĐĐT), đặt ra thách thức lớn về sự giao thoa phức tạp giữa việc bảo vệ người lao động và rào cản kỹ thuật khắt khe của Luật Giao dịch điện tử. Bài viết nhằm bóc tách bản chất pháp lý, hệ thống hóa các điều kiện phát sinh hiệu lực của HĐLĐĐT và hậu quả pháp lý khi có tranh chấp. Qua nghiên cứu so sánh và phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam, tác giả kiến nghị áp dụng mô hình đánh giá theo phân tầng rủi ro và minh bạch trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Từ khoá: Giao dịch điện tử; hợp đồng lao động điện tử; hiệu lực; vô hiệu hợp đồng. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
ĐỐI VỚI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Tóm tắt: Bài viết phân tích điều kiện công nhận quyền sử dụng đất đối với đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo Điều 138 Luật Đất đai (LĐĐ) năm 2024, gồm các điều kiện về sử dụng đất ổn định, lâu dài, không vi phạm pháp luật đất đai và không có tranh chấp. Trên cơ sở làm rõ nền tảng lý luận và nhận diện những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, bài viết đề xuất các giải pháp pháp lý khả thi nhằm bảo đảm vai trò kép của Nhà nước vừa kiến tạo vừa điều tiết, dung hòa lợi ích công và lợi ích tư, qua đó nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật và thúc đẩy môi trường pháp lý bền vững về quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay. Từ khóa: Quyền sử dụng đất; đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất; Luật Đất đai năm 2024. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
XÁC ĐỊNH THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH CÓ CHUNG QUYỀN SỬ DỤNG 
ĐẤT NÔNG NGHIỆP - MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA 
THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024

XÁC ĐỊNH THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH CÓ CHUNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP - MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024

Tóm tắt: Việc xác định thành viên hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất (QSDĐ) là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình công nhận, cấp giấy chứng nhận, thực hiện các giao dịch chuyển QSDĐ và giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng. Bài viết phân tích vấn đề xác định thành viên hộ gia đình có chung QSDĐ nông nghiệp trong bối cảnh Luật Đất đai năm 2024 không còn ghi nhận hộ gia đình là một chủ thể sử dụng đất. Trên cơ sở làm rõ các tiêu chí xác định hộ gia đình sử dụng đất, bài viết chỉ ra một số vướng mắc phát sinh trong quá trình thực tiễn về căn cứ xác định thành viên có chung QSDĐ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp. Từ đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chủ thể có chung QSDĐ nông nghiệp đối với những thửa đất nông nghiệp có nguồn gốc cấp cho hộ gia đình. Từ khóa: Hộ gia đình sử dụng đất; QSDĐ nông nghiệp; thành viên hộ gia đình; Luật Đất đai năm 2024. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ 
HỖ TRỢ SINH SẢN TRONG HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ SINH SẢN TRONG HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI

Tóm tắt: Tại Việt Nam hiện nay, các cặp đôi đồng giới đang ngày càng hiện diện công khai và gia tăng về số lượng. Nhu cầu được bảo đảm các quyền về hôn nhân gia đình của nhóm chủ thể này là một thực tế. Về bản chất sinh học, nhóm đối tượng này hầu như không có khả năng sinh con theo phương thức truyền thống, do đó, công nghệ hỗ trợ sinh sản đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa quyền làm cha, mẹ của họ. Trên cơ sở phân tích thực tiễn pháp luật tại một số quốc gia đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới và đối chiếu với pháp luật Việt Nam, bài nghiên cứu làm rõ những bất cập, khoảng trống pháp lý trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công nghệ hỗ trợ sinh sản cho các cặp đôi đồng giới. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cặp đôi đồng giới thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ hỗ trợ sinh sản, phù hợp với xu hướng bảo vệ quyền con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Từ khóa: Công nghệ hỗ trợ sinh sản; cặp đôi đồng giới; hôn nhân đồng giới; pháp luật. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
LUẬN BÀN MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN 
VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN BÀN MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực y học sinh sản, đã tạo điều kiện mở rộng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam, góp phần bảo đảm quyền làm cha, làm mẹ và quyền sinh sản của cá nhân. Tuy nhiên, trước những thành tựu mới của công nghệ sinh học và yêu cầu ngày càng cao về bảo đảm quyền con người, các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa theo kịp thực tiễn. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành, bài viết tập trung làm rõ những bất cập trong điều kiện áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đồng thời đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này. Từ khóa: Sinh con; công nghệ hỗ trợ sinh sản; kỷ nguyên mới; quyền con người; Luật Hôn nhân và gia đình. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TIỀN KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM -  
NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TIỀN KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM - NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

Tóm tắt: Tiền kỹ thuật số dựa trên công nghệ blockchain đang trở thành một xu hướng nổi bật trong nền kinh tế số với nhiều ưu điểm như tốc độ giao dịch cao, chi phí thấp, khả năng thanh toán xuyên biên giới và thúc đẩy các mô hình kinh doanh mới. Sự phát triển của loại tài sản này góp phần quan trọng vào quá trình chuyển đổi số và mở rộng hệ sinh thái tài chính, công nghệ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý điều chỉnh tiền kỹ thuật số vẫn chưa được xây dựng đầy đủ và thống nhất, dẫn đến nhiều khó khăn trong quản lý, kiểm soát rủi ro, cũng như bảo đảm an toàn cho các giao dịch tài chính. Trên cơ sở phân tích đặc điểm, ưu điểm và hạn chế của tiền kỹ thuật số, bài viết đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến việc quản lý và sử dụng loại tài sản này, chỉ ra những bất cập trong việc xác định địa vị pháp lý, cơ chế quản lý và sự thiếu đồng bộ giữa các quy định pháp luật có liên quan. Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý theo hướng minh bạch, thống nhất và phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế số, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm an toàn pháp lý trong thời gian tới. Từ khóa: Tiền kỹ thuật số; blockchain; tài sản số; quản lý nhà nước; thanh toán không dùng tiền mặt; chuyển đổi số; khung pháp lý. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI VỀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT

MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI VỀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT

Tóm tắt: Quan hệ pháp luật là một vấn đề pháp lý hết sức cơ bản, được quan tâm cả trong lý luận cũng như thực tiễn của đời sống. Sự ổn định trong quan niệm, cách tiếp cận về quan hệ pháp luật trên thực tế từ trước tới nay cho thấy có vẻ như nó đã đạt được đến độ chuẩn mực và không cần phải nhìn nhận lại hay có cách tiếp cận mới. Tuy nhiên, đời sống pháp lý hiện nay đã có sự thay đổi từ yêu cầu nhận thức cho đến vận dụng lý luận về quan hệ pháp luật vào các hoạt động thực tiễn đòi hỏi có sự tiếp cận mới toàn diện và chuẩn xác hơn. Bài viết hướng tới việc phân tích, đánh giá để nhận thức đầy đủ, rõ ràng hơn từ cách tiếp cận mới đối với một số vấn đề có liên quan đến quan hệ pháp luật nhằm phục vụ cho sự phát triển của khoa học pháp lý cũng như thực tiễn của đời sống pháp luật. Từ khóa: Quan hệ pháp luật; chủ thể quan hệ pháp luật; khách thể quan hệ pháp luật; sự kiện pháp lý. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN CẤU TRÚC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG  
KỶ NGUYÊN MỚI - TỪ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC ĐẾN THỰC TIỄN LẬP PHÁP

HOÀN THIỆN CẤU TRÚC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI - TỪ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC ĐẾN THỰC TIỄN LẬP PHÁP

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự bùng nổ của kỷ nguyên số, việc tái cấu trúc hệ thống pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực quốc gia. Bài viết tập trung phân tích những giá trị cốt lõi của Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị, đánh giá thực trạng cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay với những điểm nghẽn về tư duy và kỹ thuật lập pháp. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất nhóm giải pháp mang tính đột phá nhằm hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, đảm bảo tính kiến tạo và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Từ khóa: Cấu trúc hệ thống; pháp luật kiến tạo; kỷ nguyên mới; Kết luận 09-KL/TW. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
Chào mừng Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6

Chào mừng Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6

Dự các Hội nghị có GS.TS. Phạm Hồng Thái - Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành luật học; TS. Nguyễn Quang Vinh - Tổng biên tập Tạp chí Quản lý nhà nước; đồng chí Tạ Thành Trung - Phó Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin Bộ Tư pháp; PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa - Đại biểu Quốc hội chuyên trách khóa XIV; TS. Hoàng Thị Lan - Phó Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; TS. Lê Thị Hoa - Phó Tổng biên tập Tạp chí Quản lý nhà nước; đồng chí Nguyễn Duy Lãm - Chủ tịch Hiệp hội pháp chế doanh nghiệp Việt Nam; TS. Trần Vũ Hải - Trưởng Phòng Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Luật Hà Nội; TS. Lê Tiến Hưng, Giảng viên Học viện Kỹ thuật quân sự.
Đảm bảo đạo đức nghiên cứu và tính toàn vẹn học thuật trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo

Đảm bảo đạo đức nghiên cứu và tính toàn vẹn học thuật trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo

Sáng 16/6/2026, Học viện Tư pháp tổ chức Hội thảo khoa học “Đảm bảo đạo đức nghiên cứu và tính toàn vẹn học thuật trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo”. NGƯT. PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng - Phó Giám đốc Học viện Tư pháp, Tổng biên tập Tạp chí Nghề luật và TS. Nguyễn Quang Vinh - Tổng biên tập Tạp chí Quản lý nhà nước đồng chủ trì Hội thảo.
cong-tu-phap
bo-tu-phap
trien-khai-thi-hanh
SỐ RA MỚI NHẤT

Trong số này:

CẢI CÁCH TƯ PHÁP
• BẢO ĐẢM VAI TRÒ NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lưu Thị Ngọc Lan
1
• TƯ DUY, NHẬN THỨC MỚI VỀ CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO NGHIÊN CỨU, GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI
Võ Khánh Vinh, Võ Khánh Minh
7
• QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TƯ DUY XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trần Thị Quyên
19

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
• NƠI CƯ TRÚ, LÀM VIỆC CỦA BỊ ĐƠN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Nguyễn Chí Hiếu
24
• LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG XẢY RA DO SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG
Nguyễn Tống Bảo Minh
31
• MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG CHỨNG ĐIỆN TỬ THEO LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2024
Nguyễn Văn Mích, Lại Thị Bích Ngà
37
• QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH VÀ KINH DOANH ONLINE, THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG CẢI CÁCH THEO CƠ CHẾ DỮ LIỆU VÀ DÒNG TIỀN
Cao Tấn Nho
43
• TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Nguyễn Mai Anh
48
• QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Hà Trọng Bắc, Nguyễn Trung Dương
54
• MẪU HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Nguyễn Mai Linh
60

• THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Đặng Tiến Đông, Tô Quang Anh
67

ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG
• CHUẨN HÓA TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN HÀNH NGHỀ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ QUẢN TÀI VIÊN - YẾU TỐ THEN CHỐT THỰC THI HIỆU QUẢ THỦ TỤC PHỤC HỒI VÀ PHÁ SẢN
Bùi Thị Hà
75
PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
• MÔ HÌNH GIÁO DỤC THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TẠI ÚC - KINH NGHIỆM CHO ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT TẠI VIỆT NAM
Đào Lệ Thu, Phạm Tiến Thành
81
• MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN THÁC TÀI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC Ở HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Châu Loan
89
• MÔ HÌNH PHÂN BỔ QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguyễn Hoài Thu
96
• XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI TỐ CÁO HỢP PHÁP - BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ ÚC VÀ HOA KỲ
Trần Vang Phủ, Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi
103
• HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI RỬA TIỀN TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT HOA KỲ
Đỗ Khánh Linh, Nguyễn Huệ Linh
109
• XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIỚI BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ - KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nguyễn Hà Chi, Nguyễn Minh Phương, Đỗ Phương Linh
115