HÔM NAY: Thứ năm 06/08/2026 15:26
HOTLINE: (024) 62873428 (1011-1036).

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA CÔNG CHỨC LÀM CÔNG TÁC HỘ TỊCH TRONG BỐI CẢNH TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ

Tóm tắt: Công chức làm công tác hộ tịch là lực lượng trực tiếp thực hiện công vụ trong lĩnh vực hộ tịch, góp phần bảo đảm các quyền con người, quyền công dân và nâng cao chất lượng phục vụ hành chính ở cơ sở. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà trước mắt và trọng tâm hiện nay là tái cấu trúc hệ thống pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, việc bảo đảm các điều kiện thực hiện công vụ cho đội ngũ này trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Bài viết sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật và nghiên cứu tài liệu để làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về bảo đảm điều kiện thực hiện công vụ của công chức làm công tác hộ tịch; phân tích những bất cập trong quy định pháp luật và thực tiễn tổ chức thực hiện trong bối cảnh chuyển đổi số. Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ yêu cầu hoàn thiện thể chế, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm các điều kiện thực hiện công vụ đối với đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch nhằm nâng cao chất lượng hoạt động hộ tịch, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và chuyển đổi số ở Việt Nam. Từ khóa: Công chức làm công tác hộ tịch; điều kiện thực hiện công vụ; chuyển đổi số; hộ tịch; cải cách hành chính. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026

ENSURING THE RIGHTS FOR JUDICIAL - CIVIL STATUS OFFICIALS IN THE CONTEXT OF THE LEGAL SYSTEM RESTRUCTURE AND DIGITAL TRANSFORMATION

Abstract: Judicial and civil status officials are the personnel directly performing official duties in the field of civil status, contributing to the assurance of human rights and citizens’ rights and the enhancement of the quality of administrative services at the grassroots level. In the context of building a socialist rule of-law state in Vietnam, with current urgent task and priority placed on legal system restructure and promotion of digital transformation, ensuring working conditions for this group has become a crucial element to meet the demands of reforming state management methods and providing public services. The Law on Civil Status in 2026 provides relatively comprehensive regulations regarding the duties, competence, and official service regime for judicial and civil status officials; however, as the law has been recently enacted but not yet taken in to effect, there are certain aspects require further refinement during the implementation process. In particular, the limitations regarding institutional frameworks, human resources, digital infrastructure, inter-agency coordination, and support mechanisms in the process of performing official duties still affect the efficiency of public service delivery, especially with the requirements of digital transformation and digital system operation at the local government. Therefore, this article uses methods of analysis, synthesis, legal comparison, and review to clarify the theoretical and legal foundations to ensure the essential conditions for judicial and civil status officials to perform their duties; as well as, analyzes inadequacies in legal regulations and implementation within the context of digital transformation in order to propose solutions to improve the legal framework and enhance the effectiveness of ensuring the conditions required for these officials to carry out their work. The study results contribute to clarification of requirement of improving regulations and implementation with the aim to enhance civil status activity, meeting administrative reform and digital transformation in Vietnam. Keywords: Civil servants performing civil status registration duties; conditions for the performance of official duties; digital transformation; civil status; administrative reform. Date of receipt: 20/4/2026 Date of revision: 10/6/2026 Date of approval: 16/7/2026

Đặt vấn đề: Yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam không chỉ được đặt ra ở tầm chính sách vĩ mô, mà còn thể hiện trực tiếp qua chất lượng thực thi công vụ ở cơ sở. Đối với mỗi cá nhân, việc được dễ dàng tiếp cận các dịch vụ công về đăng ký và quản lý hộ tịch một cách chính xác, kịp thời là điều kiện nền tảng để xác lập, thực hiện và bảo vệ các quyền nhân thân, quyền dân sự cơ bản đã được khẳng định trong Hiến pháp và pháp luật. Trong đó, chất lượng các dịch vụ công lại phần lớn phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch và có mối liên hệ mật thiết đến việc bảo đảm quyền của người dân trong đời sống pháp lý hằng ngày. Luật Hộ tịch năm 2014 đã tạo bước chuyển biến quan trọng trong việc chuẩn hóa hoạt động đăng ký, quản lý hộ tịch, đồng thời đặt nền tảng cho việc xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Trên cơ sở kế thừa tinh thần này, Luật Hộ tịch năm 2026 tiếp tục thể hiện chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của quản trị nhà nước, công chức làm công tác hộ tịch không chỉ thực hiện thủ tục theo phương thức truyền thống mà còn phải tiếp nhận, xử lý, đối chiếu và khai thác dữ liệu trên môi trường điện tử, môi trường số. Sự thay đổi này tất yếu dẫn đến yêu cầu bảo đảm quyền, điều kiện làm việc và năng lực thực thi hành công vụ của đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch và do đó, vấn đề này cần phải được tiếp cận như một nội dung quan trọng trong quá trình tái cấu trúc hệ thống pháp luật và cải cách hành chính2. Thực tiễn triển khai công tác hộ tịch ở cấp cơ sở đã cho thấy, công chức làm công tác hộ tịch là lực lượng trực tiếp tiếp xúc với người dân trong các thủ tục hành chính hàng ngày như đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn, thay đổi, cải chính hộ tịch, ghi chú hộ tịch và cấp trích lục hộ tịch. Bên cạnh nhiệm vụ chuyên môn đăng ký và quản lý hộ tịch, đội ngũ này còn triển khai nhiều hoạt động hành chính tư pháp khác, như phổ biến, giáo dục pháp luật, chứng thực, hòa giải ở cơ sở và tham mưu cho chính quyền cấp xã giải quyết, xử lý nhiều vấn đề pháp lý phát sinh tại địa phương. Với khối lượng công việc ngày càng lớn, tính chất công việc khá phức tạp và yêu cầu phục vụ ngày càng cao, nên cần phải nhìn nhận quyền của công chức làm công tác hộ tịch không chỉ là quyền hạn của công chức theo luật định, mà cần coi đó như những bảo đảm nghề nghiệp gắn với đặc thù vị trí việc làm.

1. Cơ sở lý luận, chính trị pháp lý và địa vị của công chức làm công tác hộ tịch trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống pháp luật và chuyển đổi số

Xét một cách khái quát nhất, tái cấu trúc hệ thống pháp luật nói chung hay pháp luật về đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác hộ tịch nói riêng cần được hiểu là quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy cán bộ và hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ và có tính kiến tạo phát triển, làm cho bộ máy này vừa tinh gọn, vừa hiệu quả cao. Để đưa pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, quá trình này cần được tiến hành toàn diện trên cơ sở các định hướng mang tính cốt lõi gồm: (i) Cấu trúc hệ thống pháp luật được xác định theo thứ bậc từ các nguồn luật, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; (ii) Xác định rõ quy phạm pháp luật công và quy phạm pháp luật tư trong xây dựng pháp luật; (iii) Tiến hành tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam; tuyệt đối không để cài cắm lợi ích, tác động tiêu cực đến cấu trúc hệ thống pháp luật; đổi mới mạnh mẽ công tác hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật theo hướng văn bản hợp nhất là căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật, được trình và đăng tải đồng thời với văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung3. Trên tinh thần đó, việc nghiên cứu, đánh giá về đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch cần được đặt trong tổng thể các vấn đề mang tính lý luận, chính trị pháp lý và thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Thứ nhất, công chức làm công tác hộ tịch là chủ thể thực thi công vụ ở cấp cơ sở, đồng thời là chủ thể chuyên môn trong lĩnh vực hành chính tư pháp. Về phương diện tổ chức, họ thuộc đội ngũ công chức cấp xã, chịu sự quản lý trực tiếp của Ủy ban nhân dân cấp xã và sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan tư pháp cấp trên. Về phương diện chức năng, họ trực tiếp tham mưu, tiếp nhận và xử lý nhiều thủ tục liên quan đến tình trạng nhân thân của cá nhân, trong đó đăng ký hộ tịch là nhóm nhiệm vụ có tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân4 mà trong đó tiêu biểu là quyền được khai sinh, quyền kết hôn, quyền nhận cha mẹ con, quyền giám hộ, quyền được xác định/xác định lại dân tộc, quyền khai tử... Đó là các quyền nhân thân cơ bản của con người không những được quy định trong Hiến pháp5, pháp luật Việt Nam mà còn được khẳng định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên6. Địa vị pháp lý của công chức làm công tác hộ tịch, vì vậy có tính chất kép. Một mặt, họ phải tuân thủ các nguyên tắc chung của chế độ công vụ như tận tụy, liêm chính, khách quan, đúng thẩm quyền và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ. Mặt khác, do đặc thù công việc gắn với các sự kiện hộ tịch, dữ liệu nhân thân và các tình huống pháp lý nhạy cảm, họ cần được bảo đảm những quyền nghề nghiệp riêng để thực hiện nhiệm vụ một cách chính xác, an toàn và hiệu quả. Nếu chỉ nhấn mạnh nghĩa vụ và trách nhiệm mà không đồng thời bảo đảm quyền, điều kiện làm việc và năng lực chuyên môn, cơ chế công vụ sẽ khó vận hành theo hướng chuyên nghiệp và bền vững. Thứ hai, hoạt động chuyên môn của công chức làm công tác hộ tịch được đặt trên nền tảng pháp luật chuyên ngành về hộ tịch. Trong đó, Luật Hộ tịch năm 2014 trước đây và Luật hộ tịch năm 2026 đã có các quy định về phạm vi các việc hộ tịch7, nguyên tắc đăng ký hộ tịch8, thẩm quyền9, thủ tục đăng ký hộ tịch10, cơ sở dữ liệu hộ tịch11 và quản lý nhà nước về hộ tịch12. Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch năm 2014 và Nghị định số 07/2025/NĐ-CP ngày 09/01/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, đã quy định rõ một số nội dung về trình tự, thủ tục, hồ sơ đăng ký hộ tịch và trách nhiệm tổ chức thực hiện trong lĩnh vực này13. Tới đây, Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch năm 2026 được ban hành bên cạnh việc quy định chi tiết về trình tự, thủ tục, hồ sơ đăng ký hộ tịch còn quy định điều kiện, tiêu chuẩn của người làm công tác hộ tịch bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao tại Luật Hộ tịch năm 2016. Các quy định đó tạo cơ sở để công chức làm công tác hộ tịch thực hiện quyền năng công vụ, đồng thời là căn cứ xác định trách nhiệm pháp lý khi giải quyết hồ sơ hộ tịch. Tuy nhiên, xét theo nghĩa rộng, thì quyền của công chức làm công tác hộ tịch không chỉ được hiểu là quyền công vụ khi giải quyết thủ tục hành chính, trong đó có quyền yêu cầu người dân cung cấp đầy đủ hồ sơ, giấy tờ theo quy định, quyền kiểm tra thông tin hay quyền từ chối giải quyết khi hồ sơ không đủ điều kiện. Đó mới chỉ là quyền của công chức khi thực thi công vụ, bảo đảm giải quyết công việc đúng quy trình, thủ tục. Ở khía cạnh khác, quyền của công chức làm công tác hộ tịch còn bao gồm quyền được bảo đảm điều kiện làm việc, quyền được đào tạo, bồi dưỡng, quyền được bảo vệ (thân thể, tính mạng, danh dự, nhân phẩm) khi thi hành công vụ, quyền được tiếp cận thông tin nghiệp vụ, được tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình hoàn thiện quy trình chuyên môn. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, trong đó hiệu quả phục vụ người dân phụ thuộc không nhỏ vào mức độ bảo đảm quyền và điều kiện làm việc của chính người thực thi công vụ. Thứ ba, trong bối cảnh chuyển đổi số, công chức làm công tác hộ tịch trở thành mắt xích quan trọng trong quản trị dữ liệu hộ tịch. Việc xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và mở rộng dịch vụ công trực tuyến làm thay đổi căn bản phương thức xử lý hồ sơ. Công chức làm công tác hộ tịch không chỉ kiểm tra giấy tờ, ghi sổ và cấp trích lục như trước đây, mà còn phải đối chiếu dữ liệu, xử lý thông tin trên phần mềm, bảo đảm tính chính xác, an toàn và cập nhật của dữ liệu điện tử. Nghị định số 18/2026/NĐ-CP đã thể hiện rõ định hướng cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp, trong đó có những nội dung liên quan đến lĩnh vực hộ tịch14. Sự dịch chuyển này tạo ra cơ hội lớn để giảm giấy tờ, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục và nâng cao mức độ hài lòng của người dân nhưng cũng phát sinh áp lực mới đối với đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch. Nếu không được đào tạo, bồi dưỡng đầy đủ về kỹ năng số, không được cung cấp hệ thống ổn định, không có cơ chế hỗ trợ khi dữ liệu sai lệch hoặc hệ thống kỹ thuật gặp sự cố, thì công chức làm công tác hộ tịch rất dễ rơi vào tình trạng vừa phải chịu trách nhiệm hành chính, vừa thiếu công cụ thực tế để hoàn thành nhiệm vụ. Do đó, bảo đảm quyền của công chức trong môi trường số chính là điều kiện để bảo đảm chất lượng, tính minh bạch, sự an toàn pháp lý của hoạt động hộ tịch. Thứ tư, bảo đảm quyền của công chức làm công tác hộ tịch có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi quyền lợi của một nhóm chủ thể trong bộ máy nhà nước. Đây là một yếu tố cấu thành chất lượng quản trị công ở cơ sở. Khi công chức có đủ năng lực, điều kiện và cơ chế bảo vệ cần thiết, việc giải quyết thủ tục hộ tịch sẽ chính xác hơn, thân thiện hơn và ít rủi ro hơn. Ngược lại, khi đội ngũ này thiếu điều kiện làm việc, thiếu đào tạo, bồi dưỡng hoặc thiếu sự hỗ trợ pháp lý, những hạn chế đó có thể chuyển hóa thành sự chậm trễ, sai sót hoặc thái độ phục vụ thiếu chuyên nghiệp. Vì vậy, bảo đảm quyền của công chức làm công tác hộ tịch cũng là một phương thức gián tiếp nhưng thiết thực để bảo đảm quyền con người15, quyền công dân. Một cách khái quát nhất, bảo đảm quyền của công chức làm công tác hộ tịch là việc Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế tổ chức thực hiện và các điều kiện cần thiết về tổ chức, nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và các biện pháp bảo vệ nhằm tạo điều kiện để công chức làm công tác hộ tịch thực hiện đầy đủ các quyền theo quy định của pháp luật, góp phần bảo đảm việc thực hiện công vụ hiệu quả và phục vụ Nhân dân.

2. Thực trạng bảo đảm thực hiện quyền của công chức làm công tác hộ tịch

Thứ nhất, về sự thống nhất và đồng bộ trong các quy định pháp luật về quyền của công chức làm công tác hộ tịch: hiện nay, các quyền của công chức được quy định chung trong các văn bản quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức16; tiêu chuẩn, nhiệm vụ của công chức cấp xã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về chính quyền địa phương17; còn nhiệm vụ chuyên môn/ chuyên ngành lại được điều chỉnh Luật Hộ tịch và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật Hộ tịch năm 2026 bên cạnh việc ghi nhận các quyền của công chức làm công tác hộ tịch đã giao cho Chính phủ quy định rà soát, kiện toàn người làm công tác hộ tịch; quy định điều kiện, tiêu chuẩn của người làm công tác hộ tịch bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao tại Luật Hộ tịch18, nhưng Luật cũng chưa quy định về cơ chế bảo đảm quyền của công chức làm công tác hộ tịch một cách đầy đủ. Cách quy định này tuy cũng tạo được nền tảng pháp lý cần thiết, nhưng chưa làm rõ đầy đủ các quyền bảo đảm gắn với đặc thù nghề nghiệp của người làm công tác hộ tịch, nhất là trong điều kiện chuyển đổi số19. Tổng quan chung, hành lang pháp lý về quyền của công chức làm công tác hộ tịch còn khá tản mạn, chưa được thiết kế như một chỉnh thể đồng bộ, thống nhất. Hệ quả là nhiều vấn đề quan trọng vẫn được xử lý chủ yếu theo kinh nghiệm quản lý địa phương. Chẳng hạn, việc bố trí nhân sự hỗ trợ, trang bị máy tính, đường truyền, thiết bị lưu trữ, phân quyền truy cập hệ thống, đào tạo phần mềm hoặc hỗ trợ kỹ thuật khi phát sinh lỗi thường phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương. Khi thiếu chuẩn mực thống nhất, quyền được bảo đảm điều kiện làm việc của công chức làm công tác hộ tịch khó được đánh giá, giám sát và bảo vệ như một tiêu chí bắt buộc của chất lượng công vụ. Thứ hai, quy định về tiêu chuẩn và điều kiện làm việc của công chức làm công tác hộ tịch chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Trong nhiều năm, yêu cầu chuẩn hóa đối với công chức làm công tác hộ tịch tuy đã được đặt ra, nhưng khoảng cách giữa quy định pháp luật và điều kiện triển khai trên thực tế vẫn còn đáng kể. Tại một số địa bàn có khối lượng hồ sơ lớn, dân cư biến động nhanh hoặc phát sinh nhiều vụ việc hộ tịch có yếu tố nước ngoài, nhưng số lượng công chức làm công tác hộ tịch chuyên trách còn rất hạn chế. Do phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau cũng như do tính cấp thiết của các công việc được giao, nên công chức làm công tác hộ tịch ít hoặc không có thời gian để nghiên cứu nâng cao năng lực trình độ chuyên môn nói chung và công tác hộ tịch nói riêng. Trong môi trường số, hạn chế về năng lực và điều kiện làm việc của công chức làm công tác hộ tịch càng bộc lộ rõ hơn. Để giải quyết tốt các yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân, công chức làm công tác hộ tịch không chỉ cần am hiểu về pháp luật hộ tịch, mà còn phải có kiến thức và sự hiểu biết nhất định về các lĩnh vực liên quan (như phong tục tập quán, văn hoá, lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng…). Vì hộ tịch liên quan rất nhiều đến các lĩnh vực này, nếu không có kiến thức, hiểu biết nhất định thì khó có thể hoàn thành nhiệm vụ. Mặt khác, công chức làm công tác hộ tịch cũng phải có kỹ năng vận hành/sử dụng thành thạo phần mềm, xử lý dữ liệu, nhận diện sai lệch thông tin, bảo đảm an toàn thông tin và hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Do đó, từ quy định về điều kiện, tiêu chuẩn đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nếu chỉ dừng lại ở phổ biến văn bản mà thiếu thực hành, thiếu liên hệ thực tế hoặc hiểu biết sâu rộng về mỗi tình huống phát sinh, thì đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch khó có thể đáp ứng yêu cầu trong quá trình chuyển đổi số một cách thực chất. Khi đó, số hóa có nguy cơ trở thành yêu cầu làm tăng thêm áp lực công việc thay vì tạo ra sự thuận tiện cho đội ngũ này. Thứ ba, cơ chế phối hợp và liên thông dữ liệu giữa hộ tịch với các cơ quan liên quan còn chưa thật sự thông suốt. Lĩnh vực hộ tịch có mối liên hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác như cư trú, căn cước, bảo hiểm, giáo dục, y tế, thống kê và an sinh xã hội…, là những lĩnh vực đều sử dụng dữ liệu nhân thân của công dân. Vì vậy, tính chính xác của các thông tin, dữ liệu hộ tịch có ảnh hưởng đến hầu hết các thủ tục của các lĩnh vực khác liên quan đến con người, đồng thời dữ liệu từ các lĩnh vực khác cũng tác động trở lại để “kiểm chứng” đối với thông tin, dữ liệu hộ tịch. Luật Cư trú năm 2020 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 đã tạo ra bước đột phá trong công tác quản lý dân cư từ quản lý cư trú bằng sổ giấy sang quản lý bằng dữ liệu điện tử. Qua đó cũng đặt ra yêu cầu chia sẻ thông tin, dữ liệu và kết nối chặt chẽ thường xuyên hơn hơn giữa Cơ sở dữ liệu hộ tịch và Cơ sở dữ liệu cư trú của công dân20. Trên thực tế, khi dữ liệu giữa các ngành, lĩnh vực chưa đồng bộ, thông suốt, thì người trực tiếp giải thích, hướng dẫn và xử lý vướng mắc thường là công chức cấp cơ sở. Nếu không có quy trình phối hợp rõ ràng, không có đầu mối hỗ trợ kỹ thuật hoặc cơ chế xác định trách nhiệm khi dữ liệu sai lệch, công chức làm công tác hộ tịch có thể phải gánh áp lực vượt quá thẩm quyền thực tế của mình. Điều này cho thấy, quyền được yêu cầu phối hợp, quyền được hỗ trợ và quyền được bảo vệ trước rủi ro phát sinh từ hệ thống dữ liệu cần được quy định rõ hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho công chức cấp cơ sở nói chung, hộ tịch nói riêng hoàn thành nhiệm vụ. Thứ tư, nhiều quy định pháp luật hiện hành còn thiên về kiểm soát trách nhiệm hơn là bảo đảm điều kiện thực thi. Việc quản lý công chức tất nhiên phải gắn với kỷ luật, kỷ cương, phòng chống tiêu cực và trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, nếu cơ chế giám sát chỉ tập trung vào kết quả xử lý hồ sơ, tỷ lệ đúng hạn hoặc sai sót thủ tục mà không đánh giá đầy đủ điều kiện làm việc, mức độ quá tải, chất lượng phần mềm, hỗ trợ kỹ thuật và cơ hội đào tạo, thì việc đánh giá công chức sẽ thiếu công bằng, ảnh hưởng đến quyền công chức và thiếu khả năng cải thiện hệ thống. Ở góc độ quản trị công, chất lượng phục vụ người dân không thể tách rời chất lượng môi trường làm việc của công chức. Một nền hành chính chuyên nghiệp không chỉ yêu cầu công chức thực hiện đúng quy định, mà còn phải bảo đảm để họ có đủ công cụ, thông tin, kỹ năng và sự bảo vệ cần thiết khi thực hiện nhiệm vụ. Đây là điểm cần được quy định rõ trong quá trình hoàn thiện pháp luật về công chức làm công tác hộ tịch. Thứ năm, nhận thức về quyền của công chức làm công tác hộ tịch chưa tương xứng với vai trò của chức danh này. Trong nhiều trường hợp, quyền của công chức vẫn được đánh đồng với quyền về tiền lương, phụ cấp, nghỉ ngơi, đào tạo/bồi dưỡng hoặc bảo hiểm. Cách hiểu đó đúng nhưng chưa đủ, với công chức làm công tác hộ tịch, quyền nghề nghiệp còn bao gồm quyền được tiếp cận dữ liệu chính xác, quyền được bồi dưỡng, cập nhật nghiệp vụ kịp thời, quyền được hướng dẫn khi pháp luật thay đổi, quyền được tham gia phản hồi về các quy trình bất hợp lý và quyền được bảo vệ khi thực hiện đúng pháp luật nhưng đôi khi vẫn phát sinh khiếu nại từ người dân. Việc chưa nhận diện đầy đủ các quyền này (từ phía các nhà lãnh đạo, quản lý) dễ dẫn đến tình trạng quản lý chỉ thiên về chỉ đạo mang tính mệnh lệnh hành chính, tập trung vào yêu cầu công chức nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, trong khi ít chú ý đến việc thiết kế lại thể chế hoặc thay đổi môi trường làm việc để công chức có thể làm việc tốt hơn. Đây là “điểm nghẽn” cần được khắc phục nếu muốn nâng cao chất lượng công tác hộ tịch một cách bền vững.

3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo đảm thực hiện quyền của công chức tư làm công tác hộ tịch trong bối cảnh chuyển đổi số

Thứ nhất, cần hoàn thiện khung pháp luật về địa vị pháp lý và quyền của công chức làm công tác hộ tịch theo hướng chuyên biệt hơn. Trên nền tảng pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật về hộ tịch, cần xác định rõ các nhóm quyền gắn với đặc thù vị trí việc làm, bao gồm quyền được bảo đảm điều kiện làm việc; quyền được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu; quyền được tiếp cận và khai thác dữ liệu theo phân quyền; quyền được hỗ trợ kỹ thuật; quyền được bảo vệ khi thi hành công vụ; quyền được tham gia góp ý đối với quy trình, biểu mẫu và phần mềm nghiệp vụ. Việc cụ thể hóa các quyền này không làm giảm trách nhiệm của công chức, mà tạo nền tảng để trách nhiệm được thực hiện trong điều kiện công bằng và khả thi hơn21. Thứ hai, cần cụ thể hóa cơ chế bảo đảm quyền trong các quy trình số hóa thủ tục hộ tịch. Mỗi quy trình nghiệp vụ điện tử cần xác định rõ trách nhiệm của công chức làm công tác hộ tịch, trách nhiệm của cơ quan quản lý hệ thống, trách nhiệm của cơ quan cung cấp dữ liệu và cơ chế xử lý khi phát sinh lỗi kỹ thuật hoặc dữ liệu không thống nhất. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn rõ về việc lưu trữ hồ sơ điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân, phân quyền truy cập, nhật ký xử lý và trách nhiệm giải trình. Khi quy trình rõ ràng, công chức sẽ giảm được rủi ro nghề nghiệp, còn người dân được hưởng dịch vụ minh bạch và ổn định hơn. Thứ ba, cần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức làm công tác hộ tịch theo hướng thực chất. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng không nên chỉ dừng ở việc cập nhật văn bản mới, mà cần gắn với kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng tiếp dân, kỹ năng giải thích pháp luật, kỹ năng vận hành phần mềm, kỹ năng kiểm tra dữ liệu và kỹ năng bảo vệ thông tin cá nhân. Đối với địa bàn có khối lượng hồ sơ lớn hoặc nhiều hồ sơ phức tạp, cần có cơ chế bố trí đủ nhân lực chuyên trách, hạn chế tình trạng kiêm nhiệm quá rộng làm giảm chất lượng chuyên môn. Thứ tư, cần tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành và liên thông dữ liệu. Quan hệ giữa hộ tịch với công an, bảo hiểm xã hội, y tế, giáo dục và các cơ quan liên quan cần được thiết kế theo hướng có quy trình phối hợp rõ ràng, thời hạn xử lý cụ thể và đầu mối chịu trách nhiệm. Khi phát hiện sai lệch dữ liệu, công chức làm công tác hộ tịch phải có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, cập nhật, điều chỉnh hoặc xác nhận thông tin. Đồng thời, cần quy định cơ chế miễn hoặc giảm trách nhiệm cho công chức trong trường hợp sai sót phát sinh do lỗi hệ thống hoặc do dữ liệu đầu vào từ cơ quan khác mà công chức không có khả năng kiểm soát. Thứ năm, cần đổi mới cơ chế giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình theo hướng cân bằng giữa yêu cầu kỷ luật công vụ và bảo đảm quyền của công chức. Các tiêu chí đánh giá công tác hộ tịch không chỉ nên dựa vào số lượng hồ sơ, tỷ lệ đúng hạn hay phản ánh của người dân, mà cần bổ sung tiêu chí về mức độ bảo đảm điều kiện làm việc, mức độ quá tải, chất lượng hạ tầng kỹ thuật, số lượng lớp bồi dưỡng nghiệp vụ và khả năng hỗ trợ của cơ quan cấp trên. Cách tiếp cận này giúp nhận diện vấn đề ở cấp hệ thống, thay vì chỉ quy trách nhiệm cho cá nhân thực thi ở tuyến đầu. Thứ sáu, cần nâng cao nhận thức về vị trí của công chức làm công tác hộ tịch trong bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Các cơ quan quản lý nhà nước về tư pháp cần coi đội ngũ này không chỉ là người tiếp nhận và xử lý hồ sơ, mà là chủ thể trực tiếp bảo đảm tính chính xác, ổn định và an toàn của dữ liệu nhân thân. Khi được nhìn nhận đúng vai trò, công chức làm công tác hộ tịch sẽ có điều kiện phát huy năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm và khả năng đóng góp vào quá trình cải cách thủ tục hành chính ở cơ sở. Bảo đảm quyền của công chức làm công tác hộ tịch không phải là tạo thêm đặc quyền cho công chức, mà là thiết lập các điều kiện pháp lý, kỹ thuật và tổ chức cần thiết để họ thực hiện tốt hơn trách nhiệm phục vụ nhân dân. Trong bối cảnh dữ liệu trở thành nguồn lực quan trọng của nền hành chính hiện đại, việc bảo đảm quyền, năng lực và điều kiện làm việc của công chức làm công tác hộ tịch chính là một mắt xích quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị công ở cấp cơ sở.

Kết luận: Công chức làm công tác hộ tịch giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm các quyền nhân thân cơ bản của công dân thông qua hoạt động đăng ký, quản lý hộ tịch. Trong bối cảnh chuyển đổi số và tái cấu trúc hệ thống pháp luật, vai trò này cần được nhìn nhận và làm rõ hơn khi đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch không chỉ xử lý hồ sơ hành chính mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình vận hành, cập nhật và bảo đảm tính chính xác của quá trình chuyển đổi số dữ liệu hộ tịch điện tử. Pháp luật hiện hành đã tạo lập nền tảng quan trọng cho hoạt động hộ tịch, nhưng việc bảo đảm quyền của công chức làm công tác hộ tịch vẫn còn tản mạn, thiếu tính chuyên biệt và chưa theo kịp yêu cầu số hóa. Nhiều quyền có ý nghĩa thiết thực như quyền được đào tạo kỹ năng số, quyền được cung cấp hạ tầng kỹ thuật, quyền được hỗ trợ khi dữ liệu sai lệch, quyền được bảo vệ khi thi hành công vụ và quyền tham gia cải tiến quy trình nghiệp vụ chưa được cụ thể hóa đầy đủ. Các giải pháp về hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực đội ngũ, bảo đảm điều kiện làm việc, tăng cường phối hợp dữ liệu và đổi mới cơ chế giám sát cần được triển khai đồng bộ. Khi quyền, điều kiện và trách nhiệm của công chức làm công tác hộ tịch được thiết kế cân bằng, công tác hộ tịch sẽ vận hành hiệu quả hơn, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân và củng cố niềm tin của nhân dân vào chính quyền cơ sở trong kỷ nguyên số./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

3. Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2024), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật về quyền con người, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, tr. 221.

4. www.quanlynhanuoc.vn/2022/07/21/nang- cao-nang-luc-doi-ngu-cong-chuc-tu-phap-ho-tich- cap-xa-cua-huyen-thuan-thanh-tinh-bac-ninh/, truy cập ngày 11/7/2026.

5. https://danchuphapluat.vn/dia-vi-phap-ly cua-cong-chuc-tu-phap-ho-tich-cap-xa-trong quan-ly-nha-nuoc-ve-cong-tac-tu-phap-cua-uy ban-nhan-dan-cap-xa-giai-doan-hien-nay-1551 .html, truy cập ngày 10/7/2026.

6. https://danchuphapluat.vn/nang-cao-chat luong-cong-chuc-tu-phap-ho-tich-cap-xa-905. html, truy cập ngày 10/7/2026

Bạch Thị Hồng Hạnh

Bài liên quan

Tin bài khác

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁC CHỦ THỂ KIỂM SOÁT RỦI RO 
TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY FINTECH 
TRƯỚC BỐI CẢNH CÔNG NGHỆ SỐ

TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁC CHỦ THỂ KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN CỦA CÁC CÔNG TY FINTECH TRƯỚC BỐI CẢNH CÔNG NGHỆ SỐ

Tóm tắt: Trong bối cảnh Cách mạng 4.0 và chuyển đổi số, việc xác lập khung trách nhiệm pháp lý minh bạch cho các bên liên quan trong hoạt động thanh toán qua các công ty công nghệ tài chính (Fintech) là yêu cầu cấp thiết để duy trì ổn định hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích chế độ trách nhiệm pháp lý của các nhóm chủ thể kiểm soát rủi ro trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam qua ba giai đoạn kiểm soát, chỉ ra các hạn chế như: cơ chế bồi hoàn liên đới chưa rõ ràng, thiếu tiêu chí định lượng tổn thất, độ trễ công nghệ quản lý và sự chồng chéo giữa các nguồn luật. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy phạm pháp luật cho từng nhóm chủ thể, chuẩn hóa khung phân bổ nghĩa vụ theo tỷ lệ lỗi và số hóa công cụ giám sát trực tuyến nhằm bảo vệ người tiêu dùng, bảo đảm an ninh tài chính vĩ mô và thúc đẩy thị trường tài chính số phát triển bền vững. Từ khóa: Công nghệ số; Fintech, kiểm soát rủi ro; thanh toán; trách nhiệm pháp lý. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG KINH DOANH 
CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH TỪ THỰC TIỄN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG KINH DOANH CƠ SỞ LƯU TRÚ DU LỊCH TỪ THỰC TIỄN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch, pháp luật về kinh doanh cơ sở lưu trú (KDCSLT) du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo đảm quyền lợi của du khách. Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động KDCSLT, đồng thời chỉ ra những bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý về KDCSLT, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch trong bối cảnh hội nhập kinh tế và chuyển đổi số hiện nay. Từ khóa: Kinh doanh cơ sở lưu trú; pháp luật du lịch; Thành phố Hồ Chí Minh; quản lý nhà nước. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG ĐIỀU KIỆN TỔ CHỨC 
MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP

HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG ĐIỀU KIỆN TỔ CHỨC MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP

Tóm tắt: Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 và sự hình thành siêu đô thị sau sáp nhập, việc hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích thực trạng thiếu tương thích giữa thẩm quyền đặc thù được mở rộng với năng lực thực thi và nguồn lực của bộ máy hiện hành khi không còn cấp trung gian. Từ đó, tác giả đề định hướng hoàn thiện tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt về tổ chức chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh. Từ khóa: Chính quyền đô thị; phân cấp; chính quyền địa phương hai cấp; tổ chức bộ máy; Thành phố Hồ Chí Minh. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 78/2025/AL - RANH GIỚI PHÁP LÝ 
GIỮA “THÀNH VIÊN CÔNG TY” VÀ “NGƯỜI HỢP TÁC KINH DOANH”

BÌNH LUẬN ÁN LỆ SỐ 78/2025/AL - RANH GIỚI PHÁP LÝ GIỮA “THÀNH VIÊN CÔNG TY” VÀ “NGƯỜI HỢP TÁC KINH DOANH”

Tóm tắt: Mặc dù Luật Doanh nghiệp năm 2014, sau đó là Luật Doanh nghiệp năm 2020 (được sửa đổi, bổ sung các năm 2022, 2025), đã từng bước hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty, nhưng thực tiễn vẫn phát sinh nhiều tranh chấp liên quan đến việc góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH). Một trong những vấn đề phức tạp là khi một người góp tiền vào công ty, được chia lợi nhuận và tham gia một số quyền lợi như thành viên, nhưng tên lại không được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đồng thời công ty cũng không thực hiện thủ tục tăng vốn điều lệ theo quy định. Trước tình trạng thiếu nhất quán trong xét xử, Án lệ ra đời nhằm xác lập nguyên tắc giải quyết tranh chấp về góp vốn trong công ty TNHH, phân biệt rõ giữa góp vốn điều lệ (với mục đích trở thành thành viên công ty) và góp vốn kinh doanh (chỉ nhằm tăng cường nguồn lực tài chính và phân chia lợi nhuận). Bài viết này tập trung phân tích cơ sở pháp lý, nội dung, những tác động cũng như các bất cập của Án lệ, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng án lệ trong thực tiễn. Từ khóa: Án lệ 78; góp vốn; không có thỏa thuận về góp vốn điều lệ; góp vốn nhằm mục đích kinh doanh. Nhận bài: 20/3/2026 Hoàn thành biên tập: 20/5/2026 Duyệt đăng: 03/6/2026
ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO
LUẬT SƯ CÔNG TẠI HỌC VIỆN TƯ PHÁP

ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LUẬT SƯ CÔNG TẠI HỌC VIỆN TƯ PHÁP

Tóm tắt: Trong bối cảnh các vụ kiện hành chính và tranh chấp đầu tư quốc tế gia tăng mạnh mẽ, việc triển khai thí điểm chế định Luật sư công (LSC) theo Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về việc thí điểm thực hiện chế định LSC (Nghị quyết số 24/2026/QH16) là bước đi chiến lược nhằm bảo vệ tối ưu lợi ích quốc gia và quyền lợi của Nhà nước. Bài viết tập trung nghiên cứu và đề xuất định hướng xây dựng khung chương trình đào tạo LSC tại Học viện Tư pháp. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng để chuẩn hóa lộ trình đào tạo, góp phần xây dựng nền quản trị công minh bạch và chuyên nghiệp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ khóa: Luật sư, luật sư công, khung chương trình, chương trình đào tạo. Nhận bài: 26/5/2026 Hoàn thành biên tập: 28/5/2026 Duyệt đăng: 03/6/2026
THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO LUẬT 
Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ

THÁCH THỨC CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO ĐỐI VỚI ĐÀO TẠO LUẬT Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo trong những năm gần đây đang góp phần làm thay đổi môi trường giáo dục đại học trên phạm vi toàn cầu. Trong lĩnh vực đào tạo luật, nơi tư duy phản biện, năng lực lập luận và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp giữ vai trò trung tâm, những tác động này mang tính cấu trúc và lâu dài. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đào tạo luật, khảo sát thực trạng sử dụng công nghệ này của 714 sinh viên ngành luật tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Nghệ An, đồng thời nhận diện những thách thức đối với chất lượng và mục tiêu đào tạo luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy trí tuệ nhân tạo đã được sử dụng phổ biến trong hầu hết các hoạt động học tập, trong khi khung pháp lý và cơ chế quản lý học thuật chưa được hoàn thiện tương xứng. Trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng điều chỉnh chính sách và triết lý giáo dục nhằm bảo đảm việc tích hợp công nghệ diễn ra phù hợp với giá trị cốt lõi của nghề luật. Từ khóa: Trí tuệ nhân tạo; đào tạo luật; giáo dục pháp luật; liêm chính học thuật; chuyển đổi số. Nhận bài: 20/3/2026 Hoàn thành biên tập: 20/5/2026 Duyệt đăng: 03/6/2026
KIỂM SOÁT HIỆN TƯỢNG KÉO DÀI BẢO HỘ ĐỘC QUYỀN SÁNG CHẾ 
TRONG LĨNH VỰC DƯỢC PHẨM - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 
VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

KIỂM SOÁT HIỆN TƯỢNG KÉO DÀI BẢO HỘ ĐỘC QUYỀN SÁNG CHẾ TRONG LĨNH VỰC DƯỢC PHẨM - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Tóm tắt: Bảo hộ độc quyền sáng chế không chỉ là quy định mà còn thể hiện chính sách và sự khuyến khích của pháp luật dành cho sản phẩm sáng tạo đổi mới. Tuy nhiên, nội dung này chỉ phát huy đúng giá trị khi loại bỏ những yếu tố trục lợi từ các chủ thể có liên quan. Bài viết phân tích hiện tượng kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế (KDBHĐQSC), làm rõ ranh giới giữa đổi mới sáng tạo hợp pháp (legitimate innovation) và kéo dài độc quyền sáng chế (evergreening), khảo sát kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Ấn Độ trong việc kiểm soát sáng chế dược phẩm thứ cấp, đồng thời đánh giá thực trạng kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm hạn chế nguy cơ kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế trong lĩnh vực dược phẩm nhưng vẫn bảo đảm động lực đổi mới sáng tạo và tuân thủ các cam kết quốc tế của Việt Nam. Từ khóa: Kéo dài bảo hộ độc quyền sáng chế; sáng chế dược phẩm; sáng chế thứ cấp; quyền tiếp cận thuốc; Luật Sở hữu trí tuệ; TRIPS. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI 
VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

Tóm tắt: Việc ban hành Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã ghi nhận một bước tiến quan trọng trong việc cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lao động và an sinh xã hội ở Việt Nam. Bài viết phân tích những điểm mới của Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Đồng thời đưa ra một số tác động của những quy định này đến thị trường nhân lực lao động Việt Nam, hướng đến nguồn nhân lực phát triển bền vững, thích ứng với yêu cầu của thời đại chuyển đổi số và quá trình hội nhập quốc tế. Từ khóa: Luật Việc làm; Luật Bảo hiểm xã hội; Thị trường lao động; An sinh xã hội; nguồn nhân lực. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 
CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế nền tảng đã làm gia tăng mạnh mẽ lực lượng người lao động (NLĐ) cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số tại Việt Nam. Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong thị trường lao động và nền kinh tế đô thị, nhóm lao động này đang đối mặt với tình trạng thu nhập thiếu ổn định, phụ thuộc lớn vào thuật toán và cơ chế chia sẻ doanh thu do doanh nghiệp nền tảng đơn phương quyết định, trong khi chưa được bảo vệ đầy đủ bởi pháp luật lao động và an sinh xã hội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về bảo đảm thu nhập trong bối cảnh lao động nền tảng, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến lao động, bảo hiểm xã hội (BHXH) và pháp luật chuyên ngành về vận tải - nền tảng số, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý hiện nay. Trên cơ sở tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thu nhập ổn định, công bằng và bền vững cho NLĐ nền tảng. Từ khóa: Người lao động nền tảng; bảo đảm thu nhập; kinh tế nền tảng; pháp luật lao động; an sinh xã hội. Nhận bài: 20/11/2025 Hoàn thành biên tập: 20/12/2025 Duyệt đăng: 16/7/2026
BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC 
CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

Tóm tắt: Sự bùng nổ của nền kinh tế số làm xuất hiện Hợp đồng lao động điện tử (HĐLĐĐT), đặt ra thách thức lớn về sự giao thoa phức tạp giữa việc bảo vệ người lao động và rào cản kỹ thuật khắt khe của Luật Giao dịch điện tử. Bài viết nhằm bóc tách bản chất pháp lý, hệ thống hóa các điều kiện phát sinh hiệu lực của HĐLĐĐT và hậu quả pháp lý khi có tranh chấp. Qua nghiên cứu so sánh và phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam, tác giả kiến nghị áp dụng mô hình đánh giá theo phân tầng rủi ro và minh bạch trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Từ khoá: Giao dịch điện tử; hợp đồng lao động điện tử; hiệu lực; vô hiệu hợp đồng. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
jvol
SỐ RA MỚI NHẤT

Trong số này:

CẢI CÁCH TƯ PHÁP
• BẢO ĐẢM VAI TRÒ NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lưu Thị Ngọc Lan
1
• TƯ DUY, NHẬN THỨC MỚI VỀ CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO NGHIÊN CỨU, GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI
Võ Khánh Vinh, Võ Khánh Minh
7
• QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TƯ DUY XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trần Thị Quyên
19

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
• NƠI CƯ TRÚ, LÀM VIỆC CỦA BỊ ĐƠN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Nguyễn Chí Hiếu
24
• LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG XẢY RA DO SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG
Nguyễn Tống Bảo Minh
31
• MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG CHỨNG ĐIỆN TỬ THEO LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2024
Nguyễn Văn Mích, Lại Thị Bích Ngà
37
• QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH VÀ KINH DOANH ONLINE, THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG CẢI CÁCH THEO CƠ CHẾ DỮ LIỆU VÀ DÒNG TIỀN
Cao Tấn Nho
43
• TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Nguyễn Mai Anh
48
• QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Hà Trọng Bắc, Nguyễn Trung Dương
54
• MẪU HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Nguyễn Mai Linh
60

• THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Đặng Tiến Đông, Tô Quang Anh
67

ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG
• CHUẨN HÓA TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN HÀNH NGHỀ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ QUẢN TÀI VIÊN - YẾU TỐ THEN CHỐT THỰC THI HIỆU QUẢ THỦ TỤC PHỤC HỒI VÀ PHÁ SẢN
Bùi Thị Hà
75
PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
• MÔ HÌNH GIÁO DỤC THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TẠI ÚC - KINH NGHIỆM CHO ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT TẠI VIỆT NAM
Đào Lệ Thu, Phạm Tiến Thành
81
• MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN THÁC TÀI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC Ở HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Châu Loan
89
• MÔ HÌNH PHÂN BỔ QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguyễn Hoài Thu
96
• XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI TỐ CÁO HỢP PHÁP - BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ ÚC VÀ HOA KỲ
Trần Vang Phủ, Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi
103
• HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI RỬA TIỀN TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT HOA KỲ
Đỗ Khánh Linh, Nguyễn Huệ Linh
109
• XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIỚI BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ - KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nguyễn Hà Chi, Nguyễn Minh Phương, Đỗ Phương Linh
115