HÔM NAY: Thứ năm 06/08/2026 14:37
HOTLINE: (024) 62873428 (1011-1036).

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

Tóm tắt: Việc ban hành Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã ghi nhận một bước tiến quan trọng trong việc cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lao động và an sinh xã hội ở Việt Nam. Bài viết phân tích những điểm mới của Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Đồng thời đưa ra một số tác động của những quy định này đến thị trường nhân lực lao động Việt Nam, hướng đến nguồn nhân lực phát triển bền vững, thích ứng với yêu cầu của thời đại chuyển đổi số và quá trình hội nhập quốc tế. Từ khóa: Luật Việc làm; Luật Bảo hiểm xã hội; Thị trường lao động; An sinh xã hội; nguồn nhân lực. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026

KEY UPDATES TO THE LAW ON EMPLOYMENT AND THE LAW ON SOCIAL INSURANCE AND THEIR IMPACT ON VIETNAM’S LABOR MARKET

Abstract: The promulgation of the 2025 Law on Employment and the 2024 Law on Social Insurance marks a significant milestone in the reform and further development of the legal framework governing labor and social security in Vietnam. This article analyzes the novel provisions of the 2025 Law on Employment and the 2024 Law on Social Insurance. It also examines the potential impacts of these regulations on Vietnam’s labor market, with a view to fostering a sustainable workforce capable of adapting to the demands of the digital transformation era and the process of international integration. Keywords: Employment Law; Social Insurance Law; Labor Market; Social Security; Human Resources. Date of receipt: 20/4/2026 Date of revision: 10/6/2026 Date of approval: 16/7/2026

Đặt vấn đề: Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ trước hội nhập quốc tế và quá trình chuyển đổi số, thị trường lao động Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng đối mặt không ít thách thức. Việc hoàn thiện khung pháp luật về lao động, việc làm và bảo hiểm xã hội trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực, và nâng cao năng suất lao động quốc gia. Sự ra đời của Luật Việc làm năm 2025 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026) cùng với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025) đánh dấu sự điều chỉnh quan trọng trong chính sách lao động - xã hội của Việt Nam, với nhiều quy định mới liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp, mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, cũng như tăng cường tính linh hoạt và bền vững của thị trường lao động. Bài viết này tập trung phân tích các điểm mới cơ bản của hai bộ luật này, đồng thời đánh giá tác động thực tiễn đối với thị trường nhân lực, từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng và thi hành pháp luật. Để thực hiện các mục tiêu đề ra, bài viết sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp diễn dịch và quy nạp để đánh giá tác động của các quy định mới lên ba trụ cột của phát triển bền vững; Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp.

1. Những điểm mới Luật Việc làm và Luật Bảo hiểm xã hội

1.1. Những điểm mới của Luật Việc làm

Luật Việc làm năm 2025 so với Luật Việc làm năm 2013 cho thấy luật mới này không chỉ mở rộng phạm vi điều chỉnh mà còn đặt trọng tâm vào phát triển kỹ năng nghề, mở rộng cơ hội việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là những yếu tố trong tiến trình phát triển nguồn nhân lực Việt Nam. Cụ thể: Một là, Luật Việc làm năm 2025 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh đối tượng áp dụng, bao gồm cả những người lao động không chính thức, làm việc không trọn thời gian và những người hoạt động trên các nền tảng số. Điều này giúp thị trường lao động được bao quát hơn, tạo điều kiện cho nhà nước dễ theo dõi và nắm bắt tình hình chính xác hơn về tình hình cung ứng và nhu cầu lao động. Ngoài ra, nội dung của luật còn quy định các chính sách phù hợp cho từng nhóm, thay vì chỉ chú trọng vào khu vực chính thức như trước. Việc thêm quy định về “đăng ký lao động” sẽ giúp hình thành một cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất về việc làm và hỗ trợ các chính sách một cách minh bạch, phù hợp với yêu cầu của quá trình chuyển đổi số hiện nay4. Hai là, bảo vệ dữ liệu lao động. Những quy định mới về các hành vi bị nghiêm cấm như việc khai thác, mua bán hoặc sử dụng trái phép dữ liệu lao động và thông tin cá nhân5 đã tạo ra một khung pháp lý quan trọng để bảo vệ người lao động trên không gian mạng, đồng thời nâng cao tính kỷ luật và minh bạch trong thị trường việc làm. Đây là một bước tiến lớn, nhất là trong bối cảnh các mô hình việc làm trực tuyến và nền tảng số ngày càng trở nên phổ biến6. Ba là, chính sách tín dụng hỗ trợ việc làm ưu việt7. Điều này cũng thể hiện chuyển hướng mạnh mẽ từ hỗ trợ thụ động sang chủ động tạo việc làm bền vững. Việc mở rộng đối tượng hỗ trợ vay vốn, bao gồm người có công, thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, người cao tuổi và người có đất bị thu hồi, cho thấy nhà nước chú trọng hơn đến tính bao trùm, công bằng và nhân văn trong phát triển nguồn nhân lực. Đồng thời, việc giao Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay giải quyết việc làm góp phần tăng tính minh bạch và hiệu quả của chính sách. Bốn là, chính sách bảo hiểm thất nghiệp linh hoạt. Đối tượng được hỗ trợ còn mở rộng cho cả những trường hợp khủng hoảng kinh tế, thiên tai hoặc dịch bệnh, Chính phủ có khả năng giảm mức đóng hoặc hỗ trợ bằng tiền từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp, thể hiện tính linh hoạt và khả năng thích ứng cao trong quản lý kinh tế vĩ mô. Điều này giúp bảo đảm sự ổn định cho thị trường lao động, giảm thiểu biến động về việc làm và duy trì nguồn nhân lực chất lượng cao trong dài hạn. Ngoài ra, việc hoàn thiện chính sách hỗ trợ cho người lao động làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng8. Quy định mới này tạo ra một động lực quan trọng cho việc xuất khẩu lao động, giúp tạo việc làm và nâng cao kỹ năng nghề cho hàng trăm đến hàng nghìn lao động hàng năm. Việc mở rộng đối tượng được vay vốn và hỗ trợ đào tạo nghề, cũng như ngoại ngữ cho các đối tượng lao động đặc thù như người có công, thanh niên hoàn thành nghĩa vụ, người có đất bị thu hồi đất thể hiện sự quan tâm nhân văn và sự kết nối giữa chính sách việc làm trong nước với chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc tế9. Tóm lại, Luật Việc làm năm 2025 đã góp phần tái cấu trúc thị trường lao động Việt Nam theo hướng hiện đại và hướng đến nhu cầu phát triển bền vững. Luật này không chỉ mở ra nhiều cơ hội việc làm mà còn nâng cao trình độ kỹ năng nghề, bảo vệ quyền lợi của người lao động và tăng cường sự liên kết giữa thị trường lao động, an sinh xã hội và phát triển kinh tế số. Hơn nữa, luật còn mở rộng phạm vi bảo hiểm thất nghiệp, không chỉ bảo vệ quyền lợi của một số lượng lớn người lao động mà còn củng cố an toàn xã hội, xây dựng nền tảng cho việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt, việc quy định linh hoạt về mức đóng bảo hiểm thất nghiệp là bước đi hợp lý trong bối cảnh kinh tế đầy biến động, giúp giảm thiểu rủi ro cho cả người lao động và doanh nghiệp, đồng thời duy trì sự ổn định của thị trường lao động, hạn chế những tác động tiêu cực của khủng hoảng đến đời sống xã hội10.

1.2. Những điểm mới của Luật Bảo hiểm xã hội

Việc cải cách chính bảo hiểm xã hội là mục tiêu đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước. Điều này được thể hiện tại mục tiêu tổng quát của Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (Nghị quyết số 28-NQ/TW), với việc mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội đa tầng và thực hiện theo nguyên tắc đóng - hưởng. Trên cơ sở đó, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2024 nhằm thể chế hóa các quy định trong Nghị quyết số 28-NQ/TW. Thứ nhất, giảm độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội cho người cao tuổi, đây là quy định mang tính nhân văn và có tác động gián tiếp đến thị trường nhân lực lao động Việt Nam. Trước hết, việc mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng khi giảm độ tuổi được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ 80 tuổi xuống còn 75 tuổi giúp hỗ trợ kịp thời những trường hợp cần được trợ giúp. Mặt khác, chính sách này góp phần giảm áp lực tài chính đối với các hộ gia đình, đặc biệt là những gia đình lao động thu nhập thấp. Thứ hai, hạn chế rút BHXH một lần: Việc quy định nghiêm ngặt hơn đối với việc hưởng BHXH một lần đã hạn chế người lao động rút BHXH một lần, nhằm đảm bảo cho người lao động chế độ lương hưu ổn định hơn, góp phần nâng cao chất lượng lao động, đồng thời bổ sung dữ liệu để quản lý số lượng người lao động trên thị trường. Thực tế thi hành cho thấy, Luật BHXH đã thể hiện những dấu hiệu tích cực của mình khi, tính đến ngày 30/9/2025, số lượng người tham gia BHXH bắt buộc cả nước tăng khoảng 798 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, có hơn 5,3 triệu lượt người được hưởng chế độ ốm đau và gần 981,5 nghìn người hưởng chế độ thai sản11. Thứ ba, bổ sung chế độ trợ cấp thai sản vào BHXH tự nguyện. Quy định này có tác động tích cực đến thị trường lao động Việt Nam. Trước hết, chính sách này giúp thu hút thêm lao động nữ, đặc biệt là lao động khu vực phi chính thức, tham gia BHXH, qua đó mở rộng độ bao phủ an sinh xã hội. Đồng thời, việc mở rộng chính sách này thể hiện sự tiến bộ trong bình đẳng giới, giúp giảm gánh nặng tài chính cho phụ nữ trong thời kỳ thai sản. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, cần có cơ chế hỗ trợ mức đóng linh hoạt và tuyên truyền rộng rãi nhằm khuyến khích người lao động tự nguyện tham gia. Thứ tư, quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung, việc tiếp tục quy định loại hình bảo hiểm này vào Luật BHXH giúp đa dạng hóa các hình thức an sinh xã hội, giúp người lao động có thêm lựa chọn tích lũy tài chính cho tuổi già, bên cạnh chế độ hưu trí bắt buộc. Điều này có nghĩa là người lao động được tạo điều kiện để nâng cao mức hưởng lương hưu khi về già. Đối với doanh nghiệp, các chính sách về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung cho người lao động sẽ trở thành công cụ thu hút và giữ chân nhân sự chất lượng cao, bởi lẽ, khi người lao động được tham gia vào quỹ hưu trí bổ sung, họ có thêm động lực làm việc lâu dài, gắn bó với doanh nghiệp để được hưởng thêm quyền lợi.

2. Tác động của Luật Việc làm và Luật Bảo hiểm xã hội đối với thị trường nhân lực ở Việt Nam và phát triển bền vững

2.1. Tác động của Luật Việc làm đối với thị trường nhân lực ở Việt Nam và phát triển bền vững

Luật Việc làm năm 2025 là một bước ngoặt quan trọng trong việc hoàn thiện chế độ lao động, hướng tới xây dựng thị trường lao động hiện đại, linh hoạt và bền vững. Thứ nhất, mở rộng cơ hội việc làm bền vững cho mọi người lao động, thay vì chỉ tập trung vào nhóm có hợp đồng lao động chính thức như trước đây. Theo quy định mới, đối tượng được điều chỉnh không chỉ bao gồm người lao động, người sử dụng lao động mà còn mở rộng sang người lao động tự do, lao động thời vụ, người làm việc trên nền tảng số và người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã. Việc mở rộng này nhằm giúp thu hẹp khoảng cách giữa khu vực chính thức và phi chính thức, bảo đảm tính công bằng và bình đẳng trong tiếp cận chính sách việc làm là một trong những yếu tố cốt lõi của phát triển bền vững12. Thứ hai, số hóa và minh bạch thị trường. Luật Việc làm năm 2025 quy định liên quan đến “đăng ký lao động” và “phát triển kỹ năng nghề”. Đây là cơ sở thiết yếu để hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động việc làm, giúp Nhà nước xây dựng chính sách nguồn nhân lực một cách khoa học, liên kết cung cầu lao động và dự đoán xu hướng việc làm trong thời đại số. Theo đó, quy định này không chỉ làm rõ thông tin mà còn tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp và người lao động. Việc đánh giá và triển khai dữ liệu số về lao động là một yếu tố cần thiết cho một thị trường lao động minh bạch, kết nối hiệu quả và phát triển bền vững13. Thứ ba, thể hiện rõ tính nhân văn và bao quát xã hội khi mở rộng các đối tượng đủ điều kiện hưởng chính sách vay vốn, hỗ trợ đào tạo nghề. Những đối tượng bao gồm: người có công với cách mạng, thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, người cao tuổi có nhu cầu tiếp tục làm việc, người có đất bị thu hồi và người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Việc sửa đổi từ nhóm “hộ bị thu hồi đất nông nghiệp” thành “người có đất thu hồi” góp phần làm cho chính sách trở nên linh hoạt hơn và phù hợp với thực tiễn quản lý đất đai cũng như việc làm14. Qua đó, chính sách việc làm không chỉ giúp tạo ra sinh kế mà còn hỗ trợ giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội và thúc đẩy sự phát triển bền vững ở khu vực nông thôn. Thứ tư, thúc đẩy kinh tế xanh. Khuyến khích đào tạo và phát triển “việc làm xanh”, hỗ trợ chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn và bảo vệ môi trường. Cụ thể, Luật khuyến khích sự phát triển năng lực nghề nghiệp, tạo việc làm trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, còn chuyển đổi số và kinh tế xanh15. Nhờ đó, năng suất và chất lượng lao động quốc gia được nâng cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện đại. Thứ năm, phòng ngừa rủi ro, chuyển từ hỗ trợ thụ động sang chủ động duy trì việc làm, giúp doanh nghiệp và người lao động vững vàng trước các cuộc khủng hoảng. Trong khi Luật Việc làm năm 2013 chủ yếu chú trọng vào việc hỗ trợ tài chính và đào tạo nghề, thì Luật Việc làm năm 2025 đã chuyển sang phòng ngừa, duy trì và phát triển việc làm, đồng thời mở rộng đối tượng được hỗ trợ bao gồm cả người sử dụng lao động. Cụ thể, trong các trường hợp thiên tai, khủng hoảng hoặc dịch bệnh, Chính phủ có thể giảm mức đóng hoặc cung cấp hỗ trợ tài chính từ Quỹ BHTN để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Điều này thể hiện sự linh hoạt và thích ứng trong chính sách BHTN, góp phần tạo sự ổn định trong thị trường lao động và bảo vệ quyền lợi của người lao động trong bối cảnh kinh tế toàn cầu16.

2.2. Tác động của Luật Bảo hiểm xã hội đối với thị trường nhân lực ở Việt Nam và phát triển bền vững

Phát triển bền vững được định nghĩa là “sự phát triển đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai”. Phát triển bền vững đòi hỏi việc xây dựng một tương lai toàn diện, bền vững và có khả năng phục hồi cho con người và hành tinh. Để đạt được việc phát triển bền vững, điều cần làm là cân bằng và hài hòa giữa ba trụ cột chính: Tăng trưởng kinh tế, thực hiện chính sách xã hội và bảo vệ môi trường17. Như vậy có thể thấy, việc đảm bảo an sinh xã hội là một trong những điều cần làm nếu muốn đạt mục tiêu phát triển bền vững. Trong đó, các chính sách về bảo hiểm xã hội sẽ góp phần hiện thực hóa mục tiêu trên. Thứ nhất, đảm bảo an sinh cho người cao tuổi. Về trợ cấp hưu trí xã hội, việc giảm độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam, không chỉ ở khía cạnh kinh tế mà còn ở phương diện xã hội và con người. Trước hết, trợ cấp hưu trí giúp đảm bảo an sinh cho người cao tuổi - nhóm dân số ngày càng gia tăng trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa nhanh. Khi người cao tuổi có nguồn thu nhập ổn định, họ giảm sự phụ thuộc vào con cháu và Nhà nước, qua đó góp phần duy trì cân bằng xã hội, giảm nghèo đói và bất bình đẳng thế hệ. Về kinh tế, chế độ này giúp duy trì sức mua và tiêu dùng của nhóm dân số lớn tuổi, góp phần ổn định nhu cầu trong nước, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế tuần hoàn và thị trường lao động bền vững. Tuy nhiên, để bảo đảm tính bền vững, Việt Nam cần cải thiện cơ chế tài chính và quản lý quỹ hưu trí, tránh tình trạng mất cân đối trong tương lai. Đồng thời, chính sách trợ cấp hưu trí cần gắn liền với các chương trình hỗ trợ y tế. Chế độ trợ cấp hưu trí không chỉ là trụ cột của hệ thống an sinh xã hội mà còn là yếu tố nền tảng góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững quốc gia. Thứ hai, đảm bảo cho sự phát triển bền vững tại Việt Nam củng cố sự gắn kết lao động. BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện có vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển bền vững ở Việt Nam, góp phần đảm bảo an sinh lâu dài cho người lao động, giúp họ có nguồn thu nhập ổn định khi ốm đau, thai sản, thất nghiệp hoặc về hưu. Điều đó làm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc hỗ trợ các nhóm yếu thế, đồng thời duy trì sức mua và ổn định xã hội. Việc mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm xã hội, đặc biệt là bảo hiểm tự nguyện, giúp khuyến khích người lao động trong khu vực phi chính thức tham gia hệ thống chính thức, qua đó thúc đẩy quá trình minh bạch hóa và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Ngoài ra, bảo hiểm xã hội còn tạo nền tảng cho phát triển thị trường lao động bền vững, bởi khi quyền lợi người lao động được đảm bảo, họ có xu hướng gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, giảm tình trạng dịch chuyển lao động và bất ổn việc làm. Tuy nhiên, để chính sách này phát huy hiệu quả tối đa, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện cơ chế thu - chi, nâng cao tính hấp dẫn của bảo hiểm tự nguyện và tăng cường truyền thông để người dân hiểu rõ quyền lợi tham gia. Thứ ba, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư. Bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ khuyến khích thói quen tiết kiệm và đầu tư dài hạn trong xã hội, tạo nguồn vốn trung và dài hạn cho phát triển kinh tế. Ngoài ra, khi doanh nghiệp tham gia hình thức bảo hiểm này cho người lao động, họ không chỉ nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn góp phần củng cố quan hệ lao động. Bảo hiểm hưu trí bổ sung không chỉ là công cụ bảo đảm an sinh cho người dân mà còn là nền tảng hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững của Việt Nam trong dài hạn. Thứ tư, phục hồi và tái tạo nguồn nhân lực. Việc bổ sung quy định cho hưởng chế độ ốm đau không trọn ngày, một mặt thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động giúp họ được chăm sóc sức khỏe kịp thời. Mặt khác, tạo điều kiện cho người lao động được tái tạo sức lao động, phục hồi thể

chất và tinh thần để khi họ quay lại với công việc sẽ có năng suất làm việc tốt hơn. Đồng thời, việc mở rộng quyền lợi thai sản khuyến khích sinh con, giúp duy trì nguồn nhân lực trẻ cho quốc gia trong bối cảnh già hóa dân số, đảm bảo cơ cấu dân số - yếu tố then chốt cho phát triển đất nước bền vững trong dài hạn.

Kết luận: Tóm lại, việc ban hành và thực hiện Luật Việc làm năm 2025 cùng Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã thể hiện quyết tâm của Nhà nước Việt Nam trong việc xây dựng một thị trường lao động tiên tiến, linh hoạt và toàn diện. Điều này phù hợp với xu hướng chuyển đổi số, hội nhập kinh tế toàn cầu và phát triển bền vững, đồng thời nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của lực lượng lao động. Hai bộ luật này không chỉ hoàn thiện khung pháp lý về quan hệ lao động và an sinh xã hội, mà còn góp phần điều chỉnh hệ thống nhân lực quốc gia, hướng tới mục tiêu nâng cao, cải thiện chất lượng, năng suất và sức cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bảo hiểm Xã hội Việt Nam - Vĩnh Long (2025), Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp: Tăng linh hoạt, hỗ trợ duy trì việc làm, https://vinhlong. baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/an-sinhxa hoi.aspx?CateID=0&ItemID=4210, truy cập ngày 09/02/2026.

2. Báo Nhân Dân (2025), Sửa đổi Luật Việc làm: Bảo đảm bền vững, gắn với lực lượng lao động trẻ và chuyển đổi số, https://netzero.nhandan.vn/ sua-doi-luat-viec-lam-bao-dam-ben-vung-gan voi-luc-luong-lao-dong-tre-va-chuyen-doi-so post862235.html, truy cập ngày 28/02/2026.

3. CareerViet (2025), Luật Việc làm phải hướng tới cơ hội việc làm bền vững, https://careerviet. vn/vi/talentcommunity/luat-viec-lam-phai-huong -toi-co-hoi-viec-lam-ben-vung.35A5130B.html, truy cập ngày 28/02/2026.

4. Chính sách & Cuộc sống (2025), https://chinh sachcuocsong.vnanet.vn/thuc-day-kinh-te-tuan hoan-huong-toi-phat-trien-xanh-ben-vung/72540. html, truy cập ngày 28/02/2026.

5. Cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang (2025), Những điểm mới nổi bật của Luật Việc làm 2025: Mở rộng diện bao phủ, linh hoạt mức đóng bảo hiểm thất nghiệp; https://www. tuyenquang.gov.vn/vi/post/nhung-diem-moi noi-bat-cua-luat-viec-lam-2025-mo-rong-dien bao-phu-linh-hoat-muc-dong-bao-hiem-that nghiep?type=NEWS&id=156416, truy cập ngày 28/02/2026.

Phạm Thị Lệ Quyên, Nguyễn Trường Ngọc, Võ Thị Bảo Trâm

Bài liên quan

Tin bài khác

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 
CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế nền tảng đã làm gia tăng mạnh mẽ lực lượng người lao động (NLĐ) cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số tại Việt Nam. Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong thị trường lao động và nền kinh tế đô thị, nhóm lao động này đang đối mặt với tình trạng thu nhập thiếu ổn định, phụ thuộc lớn vào thuật toán và cơ chế chia sẻ doanh thu do doanh nghiệp nền tảng đơn phương quyết định, trong khi chưa được bảo vệ đầy đủ bởi pháp luật lao động và an sinh xã hội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về bảo đảm thu nhập trong bối cảnh lao động nền tảng, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến lao động, bảo hiểm xã hội (BHXH) và pháp luật chuyên ngành về vận tải - nền tảng số, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý hiện nay. Trên cơ sở tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thu nhập ổn định, công bằng và bền vững cho NLĐ nền tảng. Từ khóa: Người lao động nền tảng; bảo đảm thu nhập; kinh tế nền tảng; pháp luật lao động; an sinh xã hội. Nhận bài: 20/11/2025 Hoàn thành biên tập: 20/12/2025 Duyệt đăng: 16/7/2026
BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC 
CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

Tóm tắt: Sự bùng nổ của nền kinh tế số làm xuất hiện Hợp đồng lao động điện tử (HĐLĐĐT), đặt ra thách thức lớn về sự giao thoa phức tạp giữa việc bảo vệ người lao động và rào cản kỹ thuật khắt khe của Luật Giao dịch điện tử. Bài viết nhằm bóc tách bản chất pháp lý, hệ thống hóa các điều kiện phát sinh hiệu lực của HĐLĐĐT và hậu quả pháp lý khi có tranh chấp. Qua nghiên cứu so sánh và phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam, tác giả kiến nghị áp dụng mô hình đánh giá theo phân tầng rủi ro và minh bạch trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Từ khoá: Giao dịch điện tử; hợp đồng lao động điện tử; hiệu lực; vô hiệu hợp đồng. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
ĐỐI VỚI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Tóm tắt: Bài viết phân tích điều kiện công nhận quyền sử dụng đất đối với đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo Điều 138 Luật Đất đai (LĐĐ) năm 2024, gồm các điều kiện về sử dụng đất ổn định, lâu dài, không vi phạm pháp luật đất đai và không có tranh chấp. Trên cơ sở làm rõ nền tảng lý luận và nhận diện những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, bài viết đề xuất các giải pháp pháp lý khả thi nhằm bảo đảm vai trò kép của Nhà nước vừa kiến tạo vừa điều tiết, dung hòa lợi ích công và lợi ích tư, qua đó nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật và thúc đẩy môi trường pháp lý bền vững về quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay. Từ khóa: Quyền sử dụng đất; đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất; Luật Đất đai năm 2024. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
XÁC ĐỊNH THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH CÓ CHUNG QUYỀN SỬ DỤNG 
ĐẤT NÔNG NGHIỆP - MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA 
THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024

XÁC ĐỊNH THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH CÓ CHUNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP - MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024

Tóm tắt: Việc xác định thành viên hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất (QSDĐ) là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình công nhận, cấp giấy chứng nhận, thực hiện các giao dịch chuyển QSDĐ và giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng. Bài viết phân tích vấn đề xác định thành viên hộ gia đình có chung QSDĐ nông nghiệp trong bối cảnh Luật Đất đai năm 2024 không còn ghi nhận hộ gia đình là một chủ thể sử dụng đất. Trên cơ sở làm rõ các tiêu chí xác định hộ gia đình sử dụng đất, bài viết chỉ ra một số vướng mắc phát sinh trong quá trình thực tiễn về căn cứ xác định thành viên có chung QSDĐ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp. Từ đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chủ thể có chung QSDĐ nông nghiệp đối với những thửa đất nông nghiệp có nguồn gốc cấp cho hộ gia đình. Từ khóa: Hộ gia đình sử dụng đất; QSDĐ nông nghiệp; thành viên hộ gia đình; Luật Đất đai năm 2024. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ 
HỖ TRỢ SINH SẢN TRONG HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ SINH SẢN TRONG HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI

Tóm tắt: Tại Việt Nam hiện nay, các cặp đôi đồng giới đang ngày càng hiện diện công khai và gia tăng về số lượng. Nhu cầu được bảo đảm các quyền về hôn nhân gia đình của nhóm chủ thể này là một thực tế. Về bản chất sinh học, nhóm đối tượng này hầu như không có khả năng sinh con theo phương thức truyền thống, do đó, công nghệ hỗ trợ sinh sản đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa quyền làm cha, mẹ của họ. Trên cơ sở phân tích thực tiễn pháp luật tại một số quốc gia đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới và đối chiếu với pháp luật Việt Nam, bài nghiên cứu làm rõ những bất cập, khoảng trống pháp lý trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công nghệ hỗ trợ sinh sản cho các cặp đôi đồng giới. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cặp đôi đồng giới thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ hỗ trợ sinh sản, phù hợp với xu hướng bảo vệ quyền con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Từ khóa: Công nghệ hỗ trợ sinh sản; cặp đôi đồng giới; hôn nhân đồng giới; pháp luật. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
LUẬN BÀN MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN 
VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN BÀN MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực y học sinh sản, đã tạo điều kiện mở rộng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam, góp phần bảo đảm quyền làm cha, làm mẹ và quyền sinh sản của cá nhân. Tuy nhiên, trước những thành tựu mới của công nghệ sinh học và yêu cầu ngày càng cao về bảo đảm quyền con người, các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa theo kịp thực tiễn. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành, bài viết tập trung làm rõ những bất cập trong điều kiện áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đồng thời đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này. Từ khóa: Sinh con; công nghệ hỗ trợ sinh sản; kỷ nguyên mới; quyền con người; Luật Hôn nhân và gia đình. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TIỀN KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM -  
NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TIỀN KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM - NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

Tóm tắt: Tiền kỹ thuật số dựa trên công nghệ blockchain đang trở thành một xu hướng nổi bật trong nền kinh tế số với nhiều ưu điểm như tốc độ giao dịch cao, chi phí thấp, khả năng thanh toán xuyên biên giới và thúc đẩy các mô hình kinh doanh mới. Sự phát triển của loại tài sản này góp phần quan trọng vào quá trình chuyển đổi số và mở rộng hệ sinh thái tài chính, công nghệ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý điều chỉnh tiền kỹ thuật số vẫn chưa được xây dựng đầy đủ và thống nhất, dẫn đến nhiều khó khăn trong quản lý, kiểm soát rủi ro, cũng như bảo đảm an toàn cho các giao dịch tài chính. Trên cơ sở phân tích đặc điểm, ưu điểm và hạn chế của tiền kỹ thuật số, bài viết đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến việc quản lý và sử dụng loại tài sản này, chỉ ra những bất cập trong việc xác định địa vị pháp lý, cơ chế quản lý và sự thiếu đồng bộ giữa các quy định pháp luật có liên quan. Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý theo hướng minh bạch, thống nhất và phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế số, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm an toàn pháp lý trong thời gian tới. Từ khóa: Tiền kỹ thuật số; blockchain; tài sản số; quản lý nhà nước; thanh toán không dùng tiền mặt; chuyển đổi số; khung pháp lý. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI VỀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT

MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI VỀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT

Tóm tắt: Quan hệ pháp luật là một vấn đề pháp lý hết sức cơ bản, được quan tâm cả trong lý luận cũng như thực tiễn của đời sống. Sự ổn định trong quan niệm, cách tiếp cận về quan hệ pháp luật trên thực tế từ trước tới nay cho thấy có vẻ như nó đã đạt được đến độ chuẩn mực và không cần phải nhìn nhận lại hay có cách tiếp cận mới. Tuy nhiên, đời sống pháp lý hiện nay đã có sự thay đổi từ yêu cầu nhận thức cho đến vận dụng lý luận về quan hệ pháp luật vào các hoạt động thực tiễn đòi hỏi có sự tiếp cận mới toàn diện và chuẩn xác hơn. Bài viết hướng tới việc phân tích, đánh giá để nhận thức đầy đủ, rõ ràng hơn từ cách tiếp cận mới đối với một số vấn đề có liên quan đến quan hệ pháp luật nhằm phục vụ cho sự phát triển của khoa học pháp lý cũng như thực tiễn của đời sống pháp luật. Từ khóa: Quan hệ pháp luật; chủ thể quan hệ pháp luật; khách thể quan hệ pháp luật; sự kiện pháp lý. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN CẤU TRÚC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG  
KỶ NGUYÊN MỚI - TỪ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC ĐẾN THỰC TIỄN LẬP PHÁP

HOÀN THIỆN CẤU TRÚC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI - TỪ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC ĐẾN THỰC TIỄN LẬP PHÁP

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự bùng nổ của kỷ nguyên số, việc tái cấu trúc hệ thống pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực quốc gia. Bài viết tập trung phân tích những giá trị cốt lõi của Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị, đánh giá thực trạng cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay với những điểm nghẽn về tư duy và kỹ thuật lập pháp. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất nhóm giải pháp mang tính đột phá nhằm hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, đảm bảo tính kiến tạo và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Từ khóa: Cấu trúc hệ thống; pháp luật kiến tạo; kỷ nguyên mới; Kết luận 09-KL/TW. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
Chào mừng Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6

Chào mừng Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6

Dự các Hội nghị có GS.TS. Phạm Hồng Thái - Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành luật học; TS. Nguyễn Quang Vinh - Tổng biên tập Tạp chí Quản lý nhà nước; đồng chí Tạ Thành Trung - Phó Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin Bộ Tư pháp; PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa - Đại biểu Quốc hội chuyên trách khóa XIV; TS. Hoàng Thị Lan - Phó Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; TS. Lê Thị Hoa - Phó Tổng biên tập Tạp chí Quản lý nhà nước; đồng chí Nguyễn Duy Lãm - Chủ tịch Hiệp hội pháp chế doanh nghiệp Việt Nam; TS. Trần Vũ Hải - Trưởng Phòng Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Luật Hà Nội; TS. Lê Tiến Hưng, Giảng viên Học viện Kỹ thuật quân sự.
cong-tu-phap
bo-tu-phap
trien-khai-thi-hanh
SỐ RA MỚI NHẤT

Trong số này:

CẢI CÁCH TƯ PHÁP
• BẢO ĐẢM VAI TRÒ NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lưu Thị Ngọc Lan
1
• TƯ DUY, NHẬN THỨC MỚI VỀ CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO NGHIÊN CỨU, GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI
Võ Khánh Vinh, Võ Khánh Minh
7
• QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TƯ DUY XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trần Thị Quyên
19

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
• NƠI CƯ TRÚ, LÀM VIỆC CỦA BỊ ĐƠN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Nguyễn Chí Hiếu
24
• LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG XẢY RA DO SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG
Nguyễn Tống Bảo Minh
31
• MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG CHỨNG ĐIỆN TỬ THEO LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2024
Nguyễn Văn Mích, Lại Thị Bích Ngà
37
• QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH VÀ KINH DOANH ONLINE, THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG CẢI CÁCH THEO CƠ CHẾ DỮ LIỆU VÀ DÒNG TIỀN
Cao Tấn Nho
43
• TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Nguyễn Mai Anh
48
• QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Hà Trọng Bắc, Nguyễn Trung Dương
54
• MẪU HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Nguyễn Mai Linh
60

• THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Đặng Tiến Đông, Tô Quang Anh
67

ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG
• CHUẨN HÓA TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN HÀNH NGHỀ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ QUẢN TÀI VIÊN - YẾU TỐ THEN CHỐT THỰC THI HIỆU QUẢ THỦ TỤC PHỤC HỒI VÀ PHÁ SẢN
Bùi Thị Hà
75
PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
• MÔ HÌNH GIÁO DỤC THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TẠI ÚC - KINH NGHIỆM CHO ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT TẠI VIỆT NAM
Đào Lệ Thu, Phạm Tiến Thành
81
• MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN THÁC TÀI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC Ở HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Châu Loan
89
• MÔ HÌNH PHÂN BỔ QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguyễn Hoài Thu
96
• XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI TỐ CÁO HỢP PHÁP - BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ ÚC VÀ HOA KỲ
Trần Vang Phủ, Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi
103
• HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI RỬA TIỀN TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT HOA KỲ
Đỗ Khánh Linh, Nguyễn Huệ Linh
109
• XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIỚI BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ - KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nguyễn Hà Chi, Nguyễn Minh Phương, Đỗ Phương Linh
115