COMMENTING ON PRECEDENT NO. 78/2025/AL – LEGAL BOUNDARY BETWEEN “COMPANY MEMBER” AND “BUSINESS PARTNER”
Abstract: Although the 2014 Law on Enterprises, followed by the 2020 Law on Enterprises (as amended and supplemented in 2022 and 2025), has gradually improved the legal framework on corporate governance, in practice many disputes still arise concerning capital contribution in limited liability companies (LLCs). One of the complex issues occurs when a person contributes capital to a company, receives profit distributions, and enjoys certain rights similar to those of a company member, but his or her name is not recorded in the Enterprise Registration Certificate, while the company also fails to carry out procedures for increasing charter capital in accordance with the law. In the context of inconsistency in judicial proceedings, the Case Law was developed to establish principles for resolving disputes relating to capital contribution in LLCs, clearly distinguishing between charter capital contribution (for the purpose of becoming a company member) and business capital contribution (merely aimed at increasing financial resources and sharing profits). This article focuses on analyzing the legal basis, contents, impacts, and shortcomings of the Case Law, thereby proposing several recommendations to improve the law and enhance the effectiveness of case law application in practice. Keywords: Precedent 78; capital contribution; absence of agreement on charter capital contribution; capital contribution for business purposes. Date of receipt: 20/3/2026 Date of revision: 20/5/2026 Date of approval: 03/6/2026
Đặt vấn đề: Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, án lệ đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung các khoảng trống pháp lý, đặc biệt khi các bên không có thỏa thuận, pháp luật chưa có quy định, không có tập quán áp dụng hoặc không thể áp dụng tương tự pháp luật. Án lệ số 78/2025/AL (Án lệ) được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTP) thông qua ngày 24/12/2025, giải quyết tranh chấp giữa ông Trần Mạnh H và Công ty TNHH Đ. Ông H góp hơn 2,7 tỷ đồng, được chia lợi nhuận 12 năm với tổng số tiền từ 7-11 tỷ đồng nhưng tên ông không được ghi nhận trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Giấy CNĐKDN) và công ty chưa thực hiện thủ tục tăng vốn điều lệ. HĐTP xác định việc ông H góp khoản tiền này là góp vốn kinh doanh, không phải góp vốn điều lệ để trở thành thành viên công ty. Bài viết phân tích cơ sở pháp lý của Án lệ dựa trên Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, từ đó làm rõ sự khác biệt giữa hai hình thức góp vốn. Án lệ xác lập nguyên tắc “ưu tiên hình thức” - Giấy CNĐKDN và xem đây là chứng cứ pháp lý cao nhất để xác định tư cách thành viên. Bài viết cũng đồng thời nhận diện một số điểm bất cập của Án lệ này từ đó đề xuất các khuyến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng Án lệ.
1. Giới thiệu nội dung Án lệ
Công ty TNHH Đ (Bị đơn) được thành lập năm 2001 với 02 thành viên góp vốn ban đầu là ông Nguyễn Văn T và ông Trần V. Vốn điều lệ đăng ký lần đầu là 1 tỷ đồng. Qua các lần đăng ký thay đổi doanh nghiệp (các năm 2006, 2010, 2012), vốn điều lệ của Công ty đã được tăng lên thành 6 tỷ đồng. Tuy nhiên, tại thời điểm này, Giấy CNĐKDN vẫn chỉ ghi nhận 02 thành viên là ông T và ông V. Từ cuối năm 2001 đến năm 2003, ông Trần Mạnh H (Nguyên đơn) là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, đã chuyển tiền cho ông T nhiều lần, tổng số tiền là 2.751.218.000 đồng. Mục đích ban đầu được các bên thừa nhận là để Công ty có vốn thuê 42.970m² đất mở rộng nhà máy sản xuất tại Hưng Yên. Từ năm 2003 đến năm 2015, ông H được chia lợi nhuận đều đặn hàng năm với tổng số tiền khoảng 7 tỷ đồng (theo ông H) hoặc 11 tỷ đồng (theo ông T). Việc thanh toán được thực hiện qua nhiều hình thức: tiền mặt, chuyển khoản, hoặc gửi sổ tiết kiệm đứng tên ông T. Ngày 22/3/2017, ông T, ông V, ông H đã ký Biên bản họp Hội đồng thành viên, trong đó có các nội dung chính sau: Xác nhận tổng vốn góp của cả ba người là 7.253.656.000 đồng, trong đó ông H góp 2.751.218.000 đồng, ông T và ông V mỗi người góp 2.251.218.000 đồng; Thỏa thuận tỷ lệ chia lợi nhuận là 33,33% (1/3) cho mỗi người; ghi nhận việc ông H không tham gia điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh của Công ty. Ngày 16/3/2018, ông H có đơn xin gia nhập Công ty làm thành viên chính thức để hợp pháp hóa số vốn đã góp. Ông T (với tư cách đại diện theo pháp luật của Công ty) đã từ chối yêu cầu này của ông H. Ông H khởi kiện ra toà. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của ông H. Tuy nhiên, Chánh án TAND Tối cao kháng nghị giám đốc thẩm. HĐTP xét xử giám đốc thẩm đã hủy hai bản án này. HĐTP nhận định rằng việc góp vốn của ông H chỉ nhằm mục đích hợp tác kinh doanh, không phải để tăng vốn điều lệ, bởi lẽ: Không có thỏa thuận rõ ràng về việc tăng vốn điều lệ; việc tăng vốn chưa được đăng ký với cơ quan nhà nước; Ông H không tham gia quản lý, điều hành công ty; các bên chỉ thỏa thuận chia lợi nhuận, không đề cập đến trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của Công ty. Câu hỏi pháp lý đặt ra trong vụ án này là: một người góp tiền vào công ty TNHH, công ty không làm thủ tục đăng ký để người đó trở thành thành viên chính thức nhưng vẫn được tham gia họp hội đồng thành viên và được chia lợi nhuận như các thành viên khác, vậy khoản tiền người đó góp vào công ty có được coi là góp vốn điều lệ hay không? Tòa cấp sơ thẩm và phúc thẩm đều chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, xác nhận khoản tiền góp vốn của ông Trần Mạnh H là góp vốn điều lệ với tỷ lệ vốn góp là 1/3 và công nhận ông H là thành viên của Công ty TNHH Đ. Kết luận của án lệ: Đây là việc góp vốn kinh doanh, không phải góp vốn để tăng vốn điều lệ.
2. Phân tích và bình luận Án lệ
HĐTP đã dựa trên các luận điểm chính là các đoạn (4), (5), (7) của án lệ để huỷ bản án sơ thẩm và phúc thẩm.
2.1. Giá trị của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Án lệ 78 ghi nhận: “(4) Thực tế, Công ty TNHH Đ được thành lập năm 2001 có 02 thành viên góp vốn là ông Nguyễn Văn T và ông Trần V, với vốn điều lệ được đăng ký là 1.000.000.000 đồng; đăng ký thay đổi doanh nghiệp các lần sau đó (lần 2, 3, 4, 5) vào các năm 2006, 2010, 2012 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì Công ty có 02 thành viên là ông T và ông V với vốn điều lệ Công ty đã đăng ký là 6.000.000.000 đồng”. Theo đó, Án lệ cho rằng thành viên phải có tên trên Giấy CNĐKDN. Lập luận của HĐTP không viện dẫn trực tiếp điều luật cụ thể nào. Tuy nhiên, có thể thấy HĐTP vận dụng nguyên tắc nền tảng của Luật Doanh nghiệp năm 2014 (sửa đổi các năm 2020, 2024) về chế độ đăng ký doanh nghiệp, theo đó mọi thay đổi về vốn điều lệ, thành viên trong công ty TNHH phải được ghi nhận trong Giấy CNĐKDN2. Với quan điểm này, HĐTP cho rằng dù công ty đã tăng vốn điều lệ từ 1.000.000.000 lên 6.000.000.000 đồng và thay đổi đăng ký kinh doanh nhiều lần trong các năm 2006, 2010, 2012 nhưng trên Giấy CNĐKDN vẫn chỉ có hai thành viên là ông T và ông V mà không có tên của ông H. Như vậy không có căn cứ cho thấy ông H là thành viên của công ty. Lập luận này hoàn toàn phù hợp với chứng cứ là các Giấy CNĐKDN qua các năm do cơ quan đăng ký kinh doanh cấp. Đây là những chứng cứ khách quan, có giá trị pháp lý cao, không thể bị thay thế bởi các thỏa thuận nội bộ.
2.2. Yêu cầu xác định rõ mục đích góp vốn
Án lệ 78 ghi nhận:“(5) Theo Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty ngày 22/3/2017 nêu trên thì các bên chỉ xác nhận việc góp vốn mà không có nội dung nào xác nhận đây là số vốn góp để thành lập Công ty hay nâng vốn điều lệ của Công ty theo quy định. Các bên chỉ xác định việc chia lợi nhuận, thu nhập của mỗi người là 33,33% mà không có nội dung nào thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người tương ứng với phần vốn góp của mình đối với: các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Công ty theo Điều lệ Công ty. Mặt khác, tại biên bản này, ông H tự xác định không điều hành việc kinh doanh của Công ty. Nếu xác định đây là việc góp vốn để tăng vốn điều lệ của Công ty từ 6.000.000.000 đồng lên 7.253.656.000 đồng như các bên đã thỏa thuận thì việc tăng vốn này cũng chưa được công nhận vì chưa đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp”. Ở đây HĐTP đã lập luận dựa trên Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty ngày 22/3/2017 (Biên bản). Lập luận ở đoạn số (5) này có thể thấy HĐTP đưa ra các quan điểm về nội dung (i) và hình thức (ii) để một thỏa thuận của các thành viên được coi là thỏa thuận góp vốn điều lệ. (i) Điều kiện về nội dung Dựa trên lập luận của HĐTP có thể thấy một thỏa thuận của các thành viên công ty chỉ được coi là thỏa thuận góp vốn điều lệ khi có các nội dung sau: Thứ nhất, phải có sự xác định rõ ràng về mục đích góp vốn HĐTP cho rằng, theo Biên bản ngày 22/3/2017, “các bên chỉ xác nhận việc góp vốn mà không có nội dung nào xác nhận đây là số vốn góp để thành lập Công ty hay nâng vốn điều lệ của Công ty theo quy định”. Như vậy, HĐTP cho rằng trong Biên bản phải có nội dung ghi nhận đây là số vốn góp để tăng vốn điều lệ. Lập luận này không phù hợp với các tình tiết của Biên bản. Rõ ràng, trong Biên bản có xác nhận: “Ông T góp 2.251.218.000 đồng - tương đương với 31% vốn Điều lệ của Công ty; Ông V góp 2.251.218.000 đồng - tương đương với 31% vốn Điều lệ của Công ty; Ông H góp 2.751.218.000 đồng - tương đương với 38% vốn điều lệ của Công ty”. Như vậy, dù các bên không nói rõ đây là số vốn góp để tăng vốn điều lệ của Công ty, nhưng về ý chí các bên đã xác định rõ đây là “góp vốn điều lệ” với tổng số tiền là 7.253.656.000. Điều này phù hợp với quy định của khoản 29 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 theo đó “Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp”. Như vậy, mục đích của cuộc họp ngày 22/3/2017 nhằm xác định tổng số tiền mà các bên đã góp làm vốn cho công ty (vốn điều lệ). Số vốn này đã tăng thêm so với số vốn ban đầu. Ngoài ra, các bên đã phân chia tỷ lệ góp vốn và tỷ lệ phân chia lợi nhuận của từng người dựa trên số vốn thực góp. Nói cách khác, việc “xác nhận tổng vốn góp” và “tỷ lệ chia lợi nhuận” cũng chính là sự thừa nhận gián tiếp về vốn điều lệ. Nếu không phải là vốn điều lệ, tại sao tỷ lệ chia lợi nhuận lại tương ứng chính xác với tỷ lệ vốn góp? Thứ hai, phải có sự xác định rõ ràng về nghĩa vụ đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của người góp vốn HĐTP cho rằng trong Biên bản “không có nội dung nào thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người tương ứng với phần vốn góp của mình đối với: các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Công ty theo Điều lệ Công ty”. Lập luận này chưa thuyết phục vì trách nhiệm với các khoản nợ là hệ quả pháp lý đương nhiên phát sinh khi một người trở thành thành viên công ty TNHH và được quy định rõ tại khoản 1 Điều 51 Luật Doanh nghiệp năm 20143. Việc không nhắc lại trong biên bản không thể là căn cứ để phủ nhận tư cách thành viên. Ngoài ra, các bên không nhất thiết phải nhắc đến vì đó là điều hiển nhiên (được quy định trong luật). Thứ ba, phải có sự tham gia quản lý doanh nghiệp HĐTP nhận định việc ông H không tham gia quản lý, điều hành không phải là dấu hiệu của “góp vốn điều lệ”. Từ đó bác tư cách thành viên của ông H. Lập luận này thiếu cơ sở pháp lý vì Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng như pháp luật doanh nghiệp hiện hành không bắt buộc thành viên công ty TNHH phải tham gia quản lý, điều hành. Một thành viên góp vốn hoàn toàn có thể ủy quyền cho người khác quản lý hoặc chỉ đơn thuần hưởng lợi tức mà không nhất thiết phải tham gia điều hành4. (ii) Điều kiện về hình thức Việc góp vốn điều lệ chỉ được công nhận qua thủ tục đăng ký doanh nghiệp HĐTP không công nhận tư cách thành viên của ông H mặc dù các bên có thừa nhận trong Biên bản mỗi thành viên góp 2.251.218.000 đồng (tương ứng với 31% vốn điều lệ của Công ty). HĐTP chỉ công nhận số vốn 6.000.000.000 đồng là vốn điều lệ do ông T và ông V góp (vì 2 ông này có tên trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. HĐTP không công nhận số tiền 7.253.656.000 đồng là vốn điều lệ dựa trên lập luận “Nếu xác định đây là việc góp vốn để tăng vốn điều lệ của Công ty từ 6.000.000.000 đồng lên 7.253.656.000 đồng như các bên đã thỏa thuận thì việc tăng vốn này cũng chưa được công nhận vì chưa đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp”. Lập luận của HĐTP cũng chỉ nói chung chung “theo quy định của Luật Doanh nghiệp” chứ cũng không nói cụ thể đó là quy định nào. Thực tế, pháp luật doanh nghiệp chưa có quy định về thời điểm một người được công nhận tư cách thành viên của công ty. HĐTP cho rằng, một người chỉ được công nhận là thành viên của công ty sau khi thực hiện thủ tục đăng ký với cơ quan nhà nước. Như vậy, HĐTP muốn bảo vệ trật tự pháp lý, mọi chủ thể đều phải tuân thủ các quy định (về hình thức) mà Nhà nước đã đặt ra nếu muốn được công nhận và bảo vệ.
2.3. Góp vốn kinh doanh và vốn chủ sở hữu
Án lệ ghi nhận “(7) Theo quy định thì vốn điều lệ, việc góp vốn điều lệ để trở thành thành viên Công ty và việc góp vốn để kinh doanh là 2 vấn đề khác nhau. Các bên không có thỏa thuận, không đăng ký tăng vốn điều lệ lên 7.253.656.000 đồng, trong đó, ông H đã góp là 2.751.000.000 đồng nhưng Tòa án xác định ông H góp 33,3% vốn điều lệ là chưa đủ cơ sở. Thực tế thì sau khi thành lập Công ty năm 2001, do thiếu vốn nên ông V, ông T có bàn bạc huy động vốn của ông H để thuê 42.970m2 đất mở rộng nhà máy sản xuất ở Hưng Yên (như lời khai của chính đại diện của nguyên đơn). Như vậy, chỉ có cơ sở xác định ông H góp vốn kinh doanh, không phải góp vốn để tăng vốn điều lệ của Công ty. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, xác nhận ông Trần Mạnh H là thành viên của Công ty TNHH Đ với tỷ lệ vốn góp là 1/3 là không phù hợp với các tình tiết nêu trên. Khi giải quyết lại vụ án, nếu không có chứng cứ nào khác thì cần bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn”. Đây là nội dung quan trọng nhất của Án lệ. Về việc xác định ngoài “góp vốn điều lệ” còn có “góp vốn kinh doanh”. HĐTP đưa ra nhận định đầu tiên “việc góp vốn điều lệ để trở thành thành viên công ty và việc góp vốn để kinh doanh là hai vấn đề khác nhau”. Như vậy, HĐTP muốn nhấn mạnh khoản tiền một người góp vào công ty chưa chắc đã là góp vốn điều lệ mà còn có thể là khoản tiền góp vốn kinh doanh. HĐTP không chấp nhận khoản tiền ông H góp vào công ty là khoản tiền góp vốn điều lệ bởi các lý do chính sau: (i) Các bên không có thỏa thuận nào một cách rõ ràng cho thấy khoản tiền đó là góp vốn điều lệ; (ii) Không có hoạt động đăng ký tăng vốn điều lệ (từ 6.000.000.000 đồng) lên 7.253.656.000 đồng và (iii) Hoàn cảnh huy động tiền góp vốn của ông H là lúc công ty cần có tiền để thuê đất mở rộng nhà xưởng. Gián tiếp góp vốn bằng quyền sử dụng đất. HĐTP dựa trên một tình tiết quan trọng để cho rằng việc ông H góp vốn là “góp vốn kinh doanh”: vào năm 2001 ông V, ông T bàn bạc huy động vốn của ông H để thuê 42.970m2 đất mở rộng nhà máy sản xuất ở Hưng Yên; sau đó có việc ông H đã góp tổng số tiền 2.751.000.000 đồng. HĐTP nhận định việc ông H góp tiền để công ty thuê 42.970m2 đất mở rộng nhà máy sản xuất là góp vốn kinh doanh (chứ không phải góp vốn điều lệ) là một nhận định không có căn cứ. Bởi lẽ tình tiết khách quan này cho thấy ông H góp vốn để công ty có tiền thuê đất để làm nhà xưởng sản xuất. Theo quy định của pháp luật về đất đai, công ty được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Như vậy mục đích việc góp vốn của ông H là để công ty có được quyền sử dụng đất (tài sản cố định) chứ không phải góp vốn để lấy tiền mua nguyên vật liệu để sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác, ông H đã gián tiếp góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Theo quy định của khoản 1 Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2014 việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất cũng là góp vốn điều lệ của công ty5. Vốn chủ sở hữu. Mặt khác, nhận định của HĐTP coi số tiền ông H góp chỉ là “góp vốn kinh doanh” dường như không phù hợp với nguyên tắc xác định “vốn chủ sở hữu” theo quy định của pháp luật về kế toán. Theo quy định của khoản 1 Điều 66 Thông tư số 200/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính (TT số 200/2014/TT-BTC) quy định về vốn chủ sở hữu như sau: “Vốn chủ sở hữu là phần tài sản thuần của doanh nghiệp còn lại thuộc sở hữu của các cổ đông, thành viên góp vốn (chủ sở hữu)”. Mặt khác, khoản 2 của TT số 200/2014/TT-BTC quy định rõ “Kế toán không ghi nhận vốn góp theo vốn điều lệ trên giấy phép đăng ký kinh doanh. Khoản vốn góp huy động, nhận từ các chủ sở hữu luôn được ghi nhận theo số thực góp (…)”. Như vậy, theo pháp luật về kế toán, một người góp vốn chủ sở hữu cũng được coi là chủ sở hữu công ty. Nói cách khác, việc xác định tư cách chủ sở hữu (thành viên) công ty không chỉ dựa vào việc góp “vốn điều lệ” mà còn dựa vào việc đóng góp “vốn chủ sở hữu”. Điều rất quan trọng nữa “vốn chủ sở hữu” khác “vốn kinh doanh” ở chỗ “vốn chủ sở hữu” công ty không phải cam kết thanh toán6. Ở đây HĐTP đã không xem xét một tài liệu quan trọng khác, đó là Báo cáo tài chính của Công ty Đ để xem số tiền mà ông H góp được hạch toán vào tài khoản nào. Nếu khoản tiền này được hạch toán vào tài khoản tiền (111, 112) hoặc tài khoản nợ phải trả thì có thể kết luận khoản tiền này là “góp vốn kinh doanh”. Ngược lại, nếu số tiền của ông H được (công ty) ghi nhận trong tài khoản vốn chủ sở hữu (tài khoản 411) thì cần công nhận ông H là thành viên của công ty. Điều đó vừa giúp công ty không phải chịu áp lực về lãi vay vừa không phải hoàn lại tiền cho ông H7. Vốn là một phương tiện dùng để kinh doanh nói chung8. Việc phân biệt “góp vốn điều lệ” và “góp vốn kinh doanh” cần phải được làm tách bạch để rõ hơn nghĩa vụ của doanh nghiệp với khoản vốn nhận được.
3. Một số bất cập của Án lệ
Thứ nhất, Án lệ chưa làm rõ nội hàm pháp lý của hoạt động “góp vốn kinh doanh” HĐTP nhận định rằng số tiền của ông H là tiền “góp vốn kinh doanh”. Tuy nhiên, HĐTP lại không đưa ra các lập luận làm rõ bản chất pháp lý của quan hệ (góp vốn kinh doanh) này. Thật vậy, thuật ngữ “góp vốn kinh doanh” mà Án lệ đưa ra chưa được đề cập trong hệ thống pháp luật của Việt Nam. Khoản 1 Điều 504 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) mới chỉ đưa ra chế định về Hợp đồng hợp tác, theo đó: “Hợp đồng hợp tác là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm” và khoản 2 Điều 504 còn quy định hợp đồng hợp tác phải được lập thành văn bản. Luật Đầu tư năm 2014 lại đưa ra khái niệm “Hợp đồng hợp tác kinh doanh” ; “Hợp đồng hợp tác kinh doanh (còn gọi là hợp đồng BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm theo quy định của pháp luật mà không thành lập tổ chức kinh tế”9. Như vậy cả pháp luật dân sự và pháp luật đầu tư đều không có khái niệm “góp vốn kinh doanh”. Vậy việc “góp vốn kinh doanh” của ông H cần được giải thích theo pháp luật dân sự hay pháp luật về đầu tư? Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ “hợp tác kinh doanh” là gì? Ông H là người góp vốn hay là nhà đầu tư? Tất cả các vấn đề này đều không được Án lệ trả lời một cách rõ ràng. Thứ hai, Án lệ thiếu cơ chế bảo vệ bên thứ ba ngay tình Ông H trong vụ án là điển hình của nhà đầu tư cá nhân, thiếu hiểu biết pháp lý hoặc quá tin tưởng vào đối tác là người thân khi góp vốn làm ăn. Đây cũng là thói quen của rất nhiều người Việt Nam. Hồ sơ vụ án cho thấy ông H đã góp tiền, được tham gia họp hội đồng thành viên và được chia lợi nhuận 12 năm. Điều này thể hiện sự ngay tình của ông H và “thiện chí” của công ty trong việc thừa nhận ông H là thành viên. Tuy nhiên Án lệ, với cách tiếp cận cứng nhắc về thủ tục hành chính vô hình trung đặt toàn bộ rủi ro pháp lý lên vai người góp vốn ngay tình. Điều này đã đẩy ông H từ phía nguyên đơn trở thành bị hại khi lỗi (không tiến hành đăng ký kinh doanh) không phải của ông H mà do phía công ty không thực hiện việc ĐKKD. Nói cách khác Án lệ dường như phủ định nguyên tắc “thiện chí, trung thực” trong giao dịch dân sự mà BLDS đã đặt ra. Thứ ba, rủi ro áp dụng máy móc, cứng nhắc về hình thức Do nhấn mạnh quá mức vào yếu tố hình thức đăng ký kinh doanh, Án lệ có thể dẫn đến tình trạng tòa án các cấp áp dụng một cách máy móc, bỏ qua các tình tiết thực tế như: (i) Trường hợp doanh nghiệp cố tình trì hoãn, không chịu đăng ký tăng vốn dù đã có thỏa thuận rõ ràng; (ii) Trường hợp bất khả kháng (như chính tình huống ông H chưa có Căn cước công dân, hộ khẩu) khiến việc đăng ký không thể thực hiện ngay; (iii) Trường hợp các bên đã có đầy đủ chứng cứ về ý chí góp vốn điều lệ nhưng thiếu thủ tục hành chính.
Kết luận: Án lệ số 78/2025/AL là một bước tiến quan trọng trong việc xác lập ranh giới pháp lý giữa quan hệ “thành viên công ty” và quan hệ “người hợp tác kinh doanh” trong công ty TNHH. Bằng việc khẳng định nguyên tắc ưu tiên hình thức – lấy Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp làm căn cứ pháp lý cao nhất để xác định tư cách thành viên – Án lệ đã góp phần siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong công tác đăng ký doanh nghiệp, bảo đảm tính công khai, minh bạch và khả năng dự báo của pháp luật về quản trị công ty. Tuy nhiên, như đã phân tích, Án lệ vẫn tồn tại ba bất cập đáng kể: Thứ nhất, khái niệm “góp vốn kinh doanh” được Án lệ đưa ra còn thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng, không được định danh trong hệ thống pháp luật dân sự, đầu tư hay doanh nghiệp hiện hành, dẫn đến khó khăn trong việc xác định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên. Thứ hai, cách tiếp cận cứng nhắc về thủ tục hành chính của Án lệ đã vô hình trung đặt toàn bộ rủi ro pháp lý lên bên góp vốn ngay tình – như trường hợp của ông H – trong khi lỗi không thực hiện thủ tục đăng ký lại thuộc về phía công ty. Điều này phần nào làm suy giảm nguyên tắc “thiện chí, trung thực” trong giao dịch dân sự. Thứ ba, Án lệ có nguy cơ bị các tòa án cấp dưới áp dụng một cách máy móc, bỏ qua các tình tiết thực tế như sự cố tình trì hoãn đăng ký của doanh nghiệp, trường hợp bất khả kháng hoặc các chứng cứ rõ ràng về ý chí góp vốn điều lệ nhưng chỉ thiếu thủ tục hành chính./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Ngọc Bích, Đỗ Đình Cung (2009), Công ty Vốn, Quản lý & Tranh chấp theo Luật doanh nghiệp năm 2005, Nxb Tri thức.
2. Nguyễn Đình Luận (2016), Cơ cấu vốn của doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập: Nhận định và khuyến nghị, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 26.
3. Trần Thị Thanh Tú, Đinh Thị Thanh Vân (2015), Phát triển nguồn tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, tập 31, số 3, tr. 21 – 31.
Trong số này:
CẢI CÁCH TƯ PHÁP
• BẢO ĐẢM VAI TRÒ NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lưu Thị Ngọc Lan
1
• TƯ DUY, NHẬN THỨC MỚI VỀ CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO NGHIÊN CỨU, GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI
Võ Khánh Vinh, Võ Khánh Minh
7
• QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TƯ DUY XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trần Thị Quyên
19
NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
• NƠI CƯ TRÚ, LÀM VIỆC CỦA BỊ ĐƠN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Nguyễn Chí Hiếu
24
• LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG XẢY RA DO SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG
Nguyễn Tống Bảo Minh
31
• MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG CHỨNG ĐIỆN TỬ THEO LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2024
Nguyễn Văn Mích, Lại Thị Bích Ngà
37
• QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH VÀ KINH DOANH ONLINE, THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG CẢI CÁCH THEO CƠ CHẾ DỮ LIỆU VÀ DÒNG TIỀN
Cao Tấn Nho
43
• TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Nguyễn Mai Anh
48
• QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Hà Trọng Bắc, Nguyễn Trung Dương
54
• MẪU HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Nguyễn Mai Linh
60
• THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Đặng Tiến Đông, Tô Quang Anh
67
ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG
• CHUẨN HÓA TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN HÀNH NGHỀ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ QUẢN TÀI VIÊN - YẾU TỐ THEN CHỐT THỰC THI HIỆU QUẢ THỦ TỤC PHỤC HỒI VÀ PHÁ SẢN
Bùi Thị Hà
75
PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
• MÔ HÌNH GIÁO DỤC THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TẠI ÚC - KINH NGHIỆM CHO ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT TẠI VIỆT NAM
Đào Lệ Thu, Phạm Tiến Thành
81
• MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN THÁC TÀI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC Ở HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Châu Loan
89
• MÔ HÌNH PHÂN BỔ QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguyễn Hoài Thu
96
• XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI TỐ CÁO HỢP PHÁP - BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ ÚC VÀ HOA KỲ
Trần Vang Phủ, Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi
103
• HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI RỬA TIỀN TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT HOA KỲ
Đỗ Khánh Linh, Nguyễn Huệ Linh
109
• XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIỚI BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ - KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nguyễn Hà Chi, Nguyễn Minh Phương, Đỗ Phương Linh
115