HÔM NAY: Thứ năm 06/08/2026 14:37
HOTLINE: (024) 62873428 (1011-1036).

LUẬN BÀN MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực y học sinh sản, đã tạo điều kiện mở rộng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam, góp phần bảo đảm quyền làm cha, làm mẹ và quyền sinh sản của cá nhân. Tuy nhiên, trước những thành tựu mới của công nghệ sinh học và yêu cầu ngày càng cao về bảo đảm quyền con người, các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa theo kịp thực tiễn. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành, bài viết tập trung làm rõ những bất cập trong điều kiện áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đồng thời đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này. Từ khóa: Sinh con; công nghệ hỗ trợ sinh sản; kỷ nguyên mới; quyền con người; Luật Hôn nhân và gia đình. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026

SOME ISSUES ON ASSISTED REPRODUCTION AND DIRECTIONS FOR LEGAL IMPROVEMENT IN VIETNAM TODAY

Abstract: The rapid development of science and technology, especially in reproductive medicine, has created favorable condition for wider applying assisted reproductive technologies (ART) in Vietnam, contributing to the realization of individuals’ rights to have children. However, in the context of new achievements in biotechnology and higher requirement of on ensuring human rights, regulations in the Law on Marriage and Family on childbearing through ART remains limitations, not keeping updated with practical situation. Based on an assessment of the current Vietnamese legal framework, this article identifies existing shortcomings in the regulations governing assisted reproduction. It then proposes several directions for legal reform aimed at better protecting human rights and enhancing the effectiveness of state management in this field.

Keywords: Childbearing; assisted reproductive technologies; new era; human rights; Law on Marriage and family. Date of receipt: 20/4/2026 Date of revision: 10/6/2026 Date of approval: 16/7/2026

Đặt vấn đề: Cùng với sự biến đổi sâu sắc của đời sống xã hội và tiến bộ của y học hiện đại, vấn đề sinh con không còn chỉ giới hạn trong phương pháp tự nhiên truyền thống mà đã mở rộng sang các cách thức hiện đại có sự can thiệp của kỹ thuật công nghệ. Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy số lượng các trường hợp áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngày càng gia tăng, kéo theo nhiều quan hệ pháp lý mới phát sinh, đòi hỏi phải được nhận diện và điều chỉnh kịp thời2. Pháp luật hiện hành đã bước đầu điều chỉnh lĩnh vực này nhưng vẫn còn những khoảng trống, nhất là trong việc xác định quan hệ pháp lý giữa các chủ thể, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, cũng như kiểm soát các hệ lụy phát sinh trong thực tiễn. Những hạn chế này ngày càng bộc lộ rõ trước yêu cầu hội nhập quốc tế và sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ.

1. Khái quát chung về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là một trong những quan hệ xã hội khá phức tạp, có mối liên hệ chặt chẽ cả về các yếu tố về y học và các yếu tố pháp lý. Xét dưới phương diện y học, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khá đa dạng, bao gồm nhiều phương pháp khác nhau nhằm mục đích điều trị tình trạng vô sinh, hiếm muộn, giúp các cặp vợ chồng được thực hiện quyền làm cha, làm mẹ. Về bản chất, đặc trưng cơ bản nhất của việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là hình thức sinh con phải có sự can thiệp của các kỹ thuật y sinh học; áp dụng các tri thức về khoa học để hỗ trợ cho việc sinh con mà vì lý do nào đó không thể thụ thai tự nhiên. Tùy thuộc vào thể trạng và các yếu tố sinh học của mỗi cá nhân khác nhau, các bác sĩ, chuyên gia có thể lựa chọn các phương pháp hỗ trợ sinh sản cho phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất3. Khoản 21, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”. Hay nói cách khác, đó là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật y học hiện đại để can thiệp vào quá trình thụ thai của người phụ nữ nhằm mục đích giúp những cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh hoặc phụ nữ độc thân có thể mang thai và hiện thực hóa quyền làm cha, làm mẹ. Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã thể hiện được sự phát triển vượt bậc của ngành khoa học lĩnh vực y học, giải quyết được tình trạng vô sinh ở cả phụ nữ và nam giới do ảnh hưởng bởi sự tác động của nhiều yếu tố như môi trường ô nhiễm, hóa chất độc hại hay di chứng của chiến tranh để lại, đem lại niềm vui và hạnh phúc cho biết bao gia đình. Hiện nay có hai phương pháp chính không chỉ ngành y học Việt Nam mà ngành y học trên thế giới áp dụng đó là thụ tinh nhân tạo và thụ tinh trong ống nghiệm. Một là, đối với phương pháp thụ tinh nhân tạo. Hiện nay, thụ tinh nhân tạo đang là một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm nhiều nhất xoay quanh lĩnh vực sức khỏe sinh sản. Thụ tinh nhân tạo được biết đến là một phương pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả được áp dụng phổ biến trong điều trị vô sinh hiếm muộn nhằm mang đến cơ hội làm cha, làm mẹ cho nhiều cặp vợ chồng. Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật để tạo điều kiện cho quá trình thụ thai được diễn ra thuận lợi nhất tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Dưới góc độ y học, thụ tinh nhân tạo được hiểu là thủ thuật bơm tinh trùng của chồng hoặc của người cho tinh trùng vào tử cung của người phụ nữ có nhu cầu sinh con để tạo phôi. Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, thụ tinh nhân tạo hay còn gọi là bơm tinh trùng vào buồng tử cung là một trong những biện pháp hỗ trợ sinh sản hiệu quả cao hiện nay và trở thành lựa chọn của rất nhiều cặp vợ chồng vô sinh hiếm muộn5. Hai là, đối với phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Xét dưới khía cạnh y học, thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp tạo phôi bên ngoài cơ thể, sau một thời gian nuôi cấy bên ngoài, phôi sẽ được đưa trở lại buồng tử cung của người phụ nữ để làm tổ và bắt đầu quá trình mang thai. Đây là một kỹ thuật y khoa phức tạp được sử dụng điều trị các trường hợp vô sinh, hiếm muộn và là phương pháp đem lại hiệu quả điều trị khá cao trong giai đoạn hiện nay. Xét dưới khía cạnh pháp lý, định nghĩa thụ tinh trong ống nghiệm được quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 207/2025/NĐ-CP về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, “thụ tinh trong ống nghiệm là sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ống nghiệm để tạo thành phôi”. Việc tạo phôi này phải được thực hiện trong ống nghiệm, bên ngoài cơ thể. Điều này cũng có nghĩa là, thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp thường được thực hiện khi các chủ thể không có khả năng thụ tinh tự nhiên hoặc thụ tinh nhân tạo không phát huy hiệu quả. Ngày nay, thụ tinh trong ống nghiệm chủ yếu được dùng trong điều trị vô sinh hoặc thực hiện kỹ thuật mang thai hộ.

2. Thực trạng pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở Việt Nam hiện nay

Pháp luật Việt Nam về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã từng bước được hình thành và hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh lĩnh vực đặc thù này. Văn bản pháp lý nền tảng điều chỉnh vấn đề này là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (gọi là Luật HN&GĐ năm 2014), đặc biệt các quy định về xác định cha, mẹ, con và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, cùng với các văn bản hướng dẫn như Nghị định số 207/2025/NĐ-CP về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Nhìn chung, hệ thống pháp luật đã bước đầu ghi nhận quyền sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đồng thời đặt ra các nguyên tắc nhằm bảo đảm đạo đức xã hội, quyền con người và lợi ích của trẻ em. Thứ nhất, đối với điều kiện được nhờ mang thai hộ. Theo quy định tại khoản 22 Điều 3 của Luật Hôn nhân và gia đình thì: Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con. Như vậy, Luật đã không dự liệu được trường hợp có những phụ nữ không có tử cung và dự trữ buồng trứng của họ cũng không có trứng (noãn). Với những trường hợp này, để thực hiện mang thai hộ họ phải đi xin trứng của người khác thế nhưng Luật chưa có quy định. Khoản 4 Điều 5 của Nghị định số 207/2025/NĐ-CP quy định về việc người nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi phải có đủ sức khỏe theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Điều kiện về sức khỏe là một điều kiện có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp cận kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và thực hiện quyền sinh sản của cá nhân. Nếu tiêu chuẩn sức khỏe được xây dựng quá nghiêm ngặt, một số người có bệnh nền hoặc mắc bệnh mạn tính nhưng vẫn có khả năng mang thai an toàn dưới sự theo dõi y tế có thể bị từ chối thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Điều này có thể làm hạn chế quyền sinh sản nếu việc đánh giá không dựa trên nguyên tắc đánh giá rủi ro cá thể7. Quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 207/2025/NĐ-CP xác định điều kiện đối với người nhận noãn, theo đó người nhận phải là người Việt Nam, người gốc Việt Nam hoặc người nước ngoài có chồng là người Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam, đồng thời phải là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh do người vợ không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng. Mặc dù quy định này nhằm kiểm soát hoạt động hiến, nhận noãn và hạn chế thương mại hóa, song vẫn tồn tại bất cập như nếu chỉ cho phép người nước ngoài được nhận noãn nếu có chồng là người Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam. Điều này dẫn đến việc loại trừ các cặp vợ chồng đều là người nước ngoài nhưng đang cư trú, làm việc hợp pháp tại Việt Nam và có nhu cầu điều trị vô sinh tại các cơ sở y tế Việt Nam. Việc giới hạn này chưa được lý giải rõ ràng về mặt y khoa hoặc quản lý Nhà nước. Tại điểm b khoản 2 Điều 95 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định về điều kiện để được nhờ người mang thai hộ là: Vợ chồng đang không có con chung. Nói cách khác là chỉ có những cặp vợ chồng chưa có người con chung nào mới được thực hiện kỹ thuật mang thai hộ. Và đây chính là bất cập, là rào cản đối với những cặp vợ chồng tuy đã có con chung rồi nhưng đứa con đó bị tật nguyền, tàn tật do trong quá trình sinh nở phải can thiệp sản khoa chứ không phải tật nguyền do bệnh lý di truyền. Bên cạnh đó, mặc dù khoa học trong lĩnh vực y khoa đã phát triển nhanh nhưng trong thực tế vẫn còn không ít trường hợp vì sự can thiệp thủ thuật mà người mẹ bắt buộc phải cắt tử cung, cắt bỏ buồng trứng... nên họ không thể có con nếu không cho phép mang thai hộ. Thậm chí ở một bệnh viện đã xảy ra trường hợp có bệnh nhân được chẩn đoán là bị đau ruột thừa nhưng bác sĩ lại cắt nhầm buồng trứng8... Và với những trường hợp này thì nhu cầu có con là hoàn toàn chính đáng. Thứ hai, đối với người được nhờ mang thai hộ. Tại khoản 3 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện: “Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ…”; khoản 5 Điều 2 Nghị định số 207/2025/NĐ-CP quy định “Người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ”. Thực tiễn thi hành quy định về điều kiện của người mang thai hộ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện nay quá chặt chẽ, như có những cặp vợ chồng có con chung rồi nhưng đứa trẻ ấy lại mắc bệnh hiểm nghèo và cũng không tìm được người thân thích mang thai hộ, nên giờ đây cơ hội có con là vô cùng khó khăn. Vì quy định quá chặt chẽ nên đã phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực, thậm chí là trái pháp luật. Thời gian gần đây, đã có những trường hợp vi phạm pháp luật về mang thai hộ bị khởi tố, xét xử9. Điều này cho thấy mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đang bị biến thành hoạt động thương mại do chưa thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về điều kiện đối với người mang thai hộ. Thứ ba, đối với một số trường hợp hy hữu xảy ra. Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc thực hiện sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm sẽ phải trải qua những quy trình khắt khe về mặt kỹ thuật10. Tuy nhiên, không có điều gì có thể đảm bảo rằng việc thực hiện các quy trình kỹ thuật đó là luôn đúng. Giả thiết được đặt ra là, nếu trong quá trình cặp vợ chồng vô sinh thực hiện kỹ thuật này nhưng sai sót là các kỹ thuật viên y tế đã cấy nhầm phôi. Sau đó, khi đứa trẻ được sinh ra thì họ xét nghiệm đứa trẻ này không có cùng huyết thống với chính họ. Vậy, việc giải quyết hậu quả pháp lý trong trường hợp trên được đặt ra như thế nào? Vấn đề này cũng sẽ là trở ngại đối với trường hợp các bên thực hiện mang thai hộ. Pháp luật Việt Nam hiện hành cho phép các cặp vợ chồng không thể mang thai và sinh con ngay cả khi thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Song, với giả thiết về việc cấy nhầm phôi nói trên thì rõ ràng, giữa các bên không phát sinh những tranh chấp trong việc thực hiện mang thai hộ, đứa trẻ sau khi sinh ra vẫn được chuyển giao và thực hiện các thủ tục hộ tịch nên không thể có sự can thiệp từ các cơ quan có thẩm quyền về việc xác định thỏa thuận mang thai hộ trên là vô hiệu do vi phạm quy định về điều kiện thực hiện. Điều này cũng dẫn đến hệ quả là không có bất kỳ chế tài nào được áp dụng để xử lý các trường hợp mang thai hộ vi phạm quy định của pháp luật đối với các bên cũng như đối với cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật này. Do đó, vấn đề này cần được cân nhắc và hướng dẫn kịp thời nhằm tránh các trường hợp vi phạm xảy ra cũng như tạo cơ chế pháp lý và sự ràng buộc trách nhiệm đối với các cơ sở y tế thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Thứ tư, đối với phụ nữ độc thân thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Từ ngày 01/10/2025, theo Nghị định 207/2025/NĐ-CP cho phép phụ nữ độc thân thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản bằng tinh trùng hiến tặng mà không cần chỉ định y tế là một bước tiến đáng ghi nhận trong việc thừa nhận quyền sinh sản cá nhân11. Tuy nhiên, sự tiến bộ này lại bộc lộ bất cập khi đặt trong tương quan với quy định vẫn không cho phép người độc thân nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Cách tiếp cận “mở một phần, đóng một phần” này dẫn đến sự thiếu nhất quán trong chính sách pháp luật: một mặt thừa nhận quyền làm mẹ đơn thân, nhưng mặt khác lại hạn chế công cụ để thực hiện quyền đó trong những trường hợp người phụ nữ không có khả năng mang thai vì lý do y tế. Điều này vô hình trung tạo ra sự bất bình đẳng trong tiếp cận quyền sinh sản giữa các nhóm phụ nữ độc thân, khi chỉ những người có đủ điều kiện sinh học mới có thể hiện thực hóa quyền làm mẹ. Bên cạnh đó, việc không cho phép mang thai hộ đối với người độc thân còn có thể làm phát sinh những hệ quả ngoài ý muốn, như xu hướng tìm đến các dịch vụ mang thai hộ ở nước ngoài hoặc hình thành các thỏa thuận không chính thức trong nước, tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý và nguy cơ thương mại hóa. Đồng thời, sự thiếu đồng bộ này cũng đặt ra vấn đề về tính hợp lý trong logic lập pháp, khi cùng một mục tiêu bảo đảm quyền sinh sản nhưng lại có sự khác biệt đáng kể trong cách thức tiếp cận giữa các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Nhìn tổng thể, quy định hiện hành tuy thể hiện sự thận trọng cần thiết của nhà làm luật, song vẫn bộc lộ khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để bảo đảm tính nhất quán và công bằng trong việc thực thi quyền sinh sản trong bối cảnh xã hội ngày càng đa dạng.

3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về điều kiện thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền sinh sản của cá nhân. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần được sửa đổi theo hướng mở rộng phạm vi các trường hợp được phép nhờ mang thai hộ. Bên cạnh trường hợp người vợ có noãn nhưng không thể mang thai và sinh con, cần bổ sung trường hợp người phụ nữ không có tử cung, không còn buồng trứng hoặc không còn noãn do bệnh lý, tai biến sản khoa hoặc sự cố y khoa nhưng vẫn có nhu cầu sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thông qua việc nhận noãn hiến tặng. Đồng thời, cần sửa đổi điểm b khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình theo hướng không tuyệt đối hóa điều kiện “vợ chồng chưa có con chung”, mà cho phép xem xét mang thai hộ trong một số trường hợp đặc biệt như con chung mắc bệnh hiểm nghèo, khuyết tật nặng không do di truyền, hoặc người vợ mất hoàn toàn khả năng sinh sản sau khi đã có con. Việc mở rộng này cần đi kèm với cơ chế thẩm định y khoa và tư vấn tâm lý chặt chẽ nhằm ngăn ngừa việc lợi dụng chính sách. Thứ hai, hoàn thiện các quy định về điều kiện tiếp cận kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo hướng minh bạch, linh hoạt và dựa trên căn cứ chuyên môn y học. Cần quy định rõ các nguyên tắc cơ bản về điều kiện sức khỏe trong Nghị định, đồng thời giao Bộ Y tế hướng dẫn chi tiết các tiêu chí chuyên môn trên cơ sở đánh giá nguy cơ y khoa đối với từng trường hợp cụ thể, thay vì áp dụng tiêu chuẩn cứng. Việc đánh giá sức khỏe cần bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa, tránh làm hạn chế quyền sinh sản của những người mắc bệnh nền nhưng vẫn có khả năng mang thai an toàn dưới sự theo dõi chuyên môn. Đồng thời, cần hoàn thiện quy định về điều kiện nhận noãn theo hướng mở rộng đối tượng được tiếp cận đối với người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện chuyên môn, thay vì chỉ giới hạn trên cơ sở quốc tịch hoặc nguồn gốc. Bên cạnh đó, quy định về chỉ định nhận noãn nên được sửa đổi theo hướng viện dẫn “theo chỉ định chuyên môn của Bộ Y tế” thay vì liệt kê cứng các trường hợp “không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng”, bảo đảm tính linh hoạt trước sự phát triển nhanh chóng của y học sinh sản. Thứ ba, nghiên cứu điều chỉnh điều kiện đối với người mang thai hộ theo hướng vừa bảo đảm tính nhân đạo, vừa phù hợp với thực tiễn xã hội. Quy định chỉ cho phép người thân thích cùng hàng được mang thai hộ đã góp phần hạn chế thương mại hóa, nhưng cũng làm phát sinh nhiều khó khăn trên thực tế khi nhiều cặp vợ chồng không tìm được người đáp ứng điều kiện. Vì vậy, cần nghiên cứu mở rộng phạm vi người được phép mang thai hộ trong những trường hợp đặc biệt, có thể cho phép người không có quan hệ huyết thống nhưng có mối quan hệ thân thiết, đáp ứng đầy đủ điều kiện về sức khỏe, tâm lý, đạo đức và được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, chấp thuận. Đồng thời, cần tăng cường cơ chế giám sát, quản lý đối với toàn bộ quy trình mang thai hộ, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động hỗ trợ sinh sản, nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng mang thai hộ vì mục đích nhân đạo để thực hiện hành vi thương mại hóa. Thứ tư, hoàn thiện cơ chế pháp lý xử lý các sự cố y khoa phát sinh trong hoạt động hỗ trợ sinh sản. Pháp luật cần bổ sung các quy định cụ thể về xử lý trường hợp cấy nhầm phôi, nhầm lẫn tinh trùng, noãn hoặc các sai sót kỹ thuật khác trong quá trình thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm. Theo đó, cần xác định rõ trách nhiệm của cơ sở y tế trong việc thông báo, khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để giải quyết các vấn đề liên quan đến xác định cha, mẹ, con, đăng ký hộ tịch và bảo đảm quyền lợi của trẻ em. Đồng thời, cần hoàn thiện các quy định về trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm quy trình chuyên môn hoặc cố ý thực hiện hành vi trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng. Song song với đó, cần ban hành quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc đối với tinh trùng, noãn, phôi nhằm hạn chế tối đa các sự cố y khoa. Ngoài ra, trong bối cảnh Nghị định số 207/2025/ NĐ-CP đã cho phép phụ nữ độc thân thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản bằng tinh trùng hiến tặng, cần tiếp tục nghiên cứu khả năng mở rộng quyền tiếp cận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với phụ nữ độc thân trong trường hợp có xác nhận của cơ sở y tế về việc không có khả năng mang thai và sinh con. Việc mở rộng này cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp, trên cơ sở đánh giá toàn diện tác động về đạo đức, xã hội và lợi ích của trẻ em, đồng thời thiết lập cơ chế kiểm soát nghiêm ngặt nhằm ngăn ngừa thương mại hóa hoạt động mang thai hộ. Cách tiếp cận này sẽ góp phần bảo đảm sự thống nhất trong chính sách pháp luật về quyền sinh sản, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ quyền con người và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển khoa học, công nghệ trong lĩnh vực y học sinh sản. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế quản lý Nhà nước đối với hoạt động hỗ trợ sinh sản. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi và mang thai hộ; hoàn thiện cơ chế liên thông giữa cơ sở y tế, cơ quan hộ tịch và cơ quan quản lý Nhà nước; tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản lý hồ sơ, truy xuất nguồn gốc mẫu sinh học và kiểm soát quy trình chuyên môn. Đồng thời, cần nâng cao năng lực của các cơ sở thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thông qua việc chuẩn hóa điều kiện chuyên môn, tăng cường kiểm định chất lượng, đào tạo nguồn nhân lực và đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra định kỳ. Đây là điều kiện quan trọng để vừa bảo đảm quyền sinh sản của người dân, vừa nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước và phòng ngừa các hành vi lợi dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại hoặc trái pháp luật.

Kết luận: Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là lĩnh vực liên ngành, đặt ra nhiều vấn đề pháp lý và đạo đức trong bối cảnh khoa học phát triển nhanh và nhu cầu xã hội gia tăng. Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng, nhưng vẫn còn tồn tại các bất cập như thiếu đồng bộ, quy định còn cứng nhắc và khoảng trống trong xử lý tình huống thực tiễn. Do đó, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm quyền sinh sản, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước. Các giải pháp cần được thực hiện theo hướng đồng bộ, linh hoạt và có kiểm soát, hướng tới xây dựng một khung pháp lý hiện đại, phù hợp với bối cảnh mới./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đoàn Thị Ngọc Hải (2020), Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật Việt Nam, https://tapchitoaan. vn/van-de-sinh-con-bang-ky-thuat-ho-tro-sinh san-o-nuoc-ta-dang-tro-nen-ngay-cang-pho-bien do-vay-cung-can-phai-co-mot-hanh-lang-phap ly-de-quan-ly-chat-che-van-de-nay, truy cập ngày 20/3/2026.

2. Nguyễn Thị Lê Huyền (2026), Một số vấn đề pháp lý phát sinh trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, https://tcdcpl. moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thi-hanh-phap-luat. aspx?ItemID=920, truy cập ngày 20/3/2026.

3. Phạm Hường (2024), Ưu và nhược điểm của các phương pháp hỗ trợ sinh sản phổ biến, https:// yte.nghean.gov.vn/tin-tuc-su-kien/uu-va-nhuoc diem-cua-cac-phuong-phap-ho-tro-sinh-san-pho bien-683618, truy cập ngày 20/3/2026.

4. Phạm Minh Chiến (2021), Một số vướng mắc, bất cập về việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ, https://tapchitoaan. vn/mot-so-vuong-mac-bat-cap-ve-viec-sinh-con bang-ky-thuat-ho-tro-sinh-san-mang-thai-ho?, truy cập ngày 20/3/2026

Nguyễn Thị Hường

Bài liên quan

Tin bài khác

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI 
VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT VIỆC LÀM, LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

Tóm tắt: Việc ban hành Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã ghi nhận một bước tiến quan trọng trong việc cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lao động và an sinh xã hội ở Việt Nam. Bài viết phân tích những điểm mới của Luật Việc làm năm 2025 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Đồng thời đưa ra một số tác động của những quy định này đến thị trường nhân lực lao động Việt Nam, hướng đến nguồn nhân lực phát triển bền vững, thích ứng với yêu cầu của thời đại chuyển đổi số và quá trình hội nhập quốc tế. Từ khóa: Luật Việc làm; Luật Bảo hiểm xã hội; Thị trường lao động; An sinh xã hội; nguồn nhân lực. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 
CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THU NHẬP CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH THÔNG QUA NỀN TẢNG SỐ

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế nền tảng đã làm gia tăng mạnh mẽ lực lượng người lao động (NLĐ) cung cấp dịch vụ vận chuyển hành khách thông qua nền tảng số tại Việt Nam. Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong thị trường lao động và nền kinh tế đô thị, nhóm lao động này đang đối mặt với tình trạng thu nhập thiếu ổn định, phụ thuộc lớn vào thuật toán và cơ chế chia sẻ doanh thu do doanh nghiệp nền tảng đơn phương quyết định, trong khi chưa được bảo vệ đầy đủ bởi pháp luật lao động và an sinh xã hội. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về bảo đảm thu nhập trong bối cảnh lao động nền tảng, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến lao động, bảo hiểm xã hội (BHXH) và pháp luật chuyên ngành về vận tải - nền tảng số, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý hiện nay. Trên cơ sở tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thu nhập ổn định, công bằng và bền vững cho NLĐ nền tảng. Từ khóa: Người lao động nền tảng; bảo đảm thu nhập; kinh tế nền tảng; pháp luật lao động; an sinh xã hội. Nhận bài: 20/11/2025 Hoàn thành biên tập: 20/12/2025 Duyệt đăng: 16/7/2026
BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC 
CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

BÀN VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐIỆN TỬ

Tóm tắt: Sự bùng nổ của nền kinh tế số làm xuất hiện Hợp đồng lao động điện tử (HĐLĐĐT), đặt ra thách thức lớn về sự giao thoa phức tạp giữa việc bảo vệ người lao động và rào cản kỹ thuật khắt khe của Luật Giao dịch điện tử. Bài viết nhằm bóc tách bản chất pháp lý, hệ thống hóa các điều kiện phát sinh hiệu lực của HĐLĐĐT và hậu quả pháp lý khi có tranh chấp. Qua nghiên cứu so sánh và phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam, tác giả kiến nghị áp dụng mô hình đánh giá theo phân tầng rủi ro và minh bạch trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Từ khoá: Giao dịch điện tử; hợp đồng lao động điện tử; hiệu lực; vô hiệu hợp đồng. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
ĐỐI VỚI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

ĐIỀU KIỆN CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI ĐẤT KHÔNG CÓ GIẤY TỜ VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Tóm tắt: Bài viết phân tích điều kiện công nhận quyền sử dụng đất đối với đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo Điều 138 Luật Đất đai (LĐĐ) năm 2024, gồm các điều kiện về sử dụng đất ổn định, lâu dài, không vi phạm pháp luật đất đai và không có tranh chấp. Trên cơ sở làm rõ nền tảng lý luận và nhận diện những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, bài viết đề xuất các giải pháp pháp lý khả thi nhằm bảo đảm vai trò kép của Nhà nước vừa kiến tạo vừa điều tiết, dung hòa lợi ích công và lợi ích tư, qua đó nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật và thúc đẩy môi trường pháp lý bền vững về quyền sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay. Từ khóa: Quyền sử dụng đất; đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất; Luật Đất đai năm 2024. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
XÁC ĐỊNH THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH CÓ CHUNG QUYỀN SỬ DỤNG 
ĐẤT NÔNG NGHIỆP - MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA 
THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024

XÁC ĐỊNH THÀNH VIÊN HỘ GIA ĐÌNH CÓ CHUNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP - MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA THEO LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2024

Tóm tắt: Việc xác định thành viên hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất (QSDĐ) là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình công nhận, cấp giấy chứng nhận, thực hiện các giao dịch chuyển QSDĐ và giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng. Bài viết phân tích vấn đề xác định thành viên hộ gia đình có chung QSDĐ nông nghiệp trong bối cảnh Luật Đất đai năm 2024 không còn ghi nhận hộ gia đình là một chủ thể sử dụng đất. Trên cơ sở làm rõ các tiêu chí xác định hộ gia đình sử dụng đất, bài viết chỉ ra một số vướng mắc phát sinh trong quá trình thực tiễn về căn cứ xác định thành viên có chung QSDĐ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp. Từ đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chủ thể có chung QSDĐ nông nghiệp đối với những thửa đất nông nghiệp có nguồn gốc cấp cho hộ gia đình. Từ khóa: Hộ gia đình sử dụng đất; QSDĐ nông nghiệp; thành viên hộ gia đình; Luật Đất đai năm 2024. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ 
HỖ TRỢ SINH SẢN TRONG HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TIẾP CẬN CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ SINH SẢN TRONG HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI

Tóm tắt: Tại Việt Nam hiện nay, các cặp đôi đồng giới đang ngày càng hiện diện công khai và gia tăng về số lượng. Nhu cầu được bảo đảm các quyền về hôn nhân gia đình của nhóm chủ thể này là một thực tế. Về bản chất sinh học, nhóm đối tượng này hầu như không có khả năng sinh con theo phương thức truyền thống, do đó, công nghệ hỗ trợ sinh sản đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa quyền làm cha, mẹ của họ. Trên cơ sở phân tích thực tiễn pháp luật tại một số quốc gia đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới và đối chiếu với pháp luật Việt Nam, bài nghiên cứu làm rõ những bất cập, khoảng trống pháp lý trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công nghệ hỗ trợ sinh sản cho các cặp đôi đồng giới. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cặp đôi đồng giới thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ hỗ trợ sinh sản, phù hợp với xu hướng bảo vệ quyền con người trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Từ khóa: Công nghệ hỗ trợ sinh sản; cặp đôi đồng giới; hôn nhân đồng giới; pháp luật. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TIỀN KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM -  
NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TIỀN KỸ THUẬT SỐ Ở VIỆT NAM - NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

Tóm tắt: Tiền kỹ thuật số dựa trên công nghệ blockchain đang trở thành một xu hướng nổi bật trong nền kinh tế số với nhiều ưu điểm như tốc độ giao dịch cao, chi phí thấp, khả năng thanh toán xuyên biên giới và thúc đẩy các mô hình kinh doanh mới. Sự phát triển của loại tài sản này góp phần quan trọng vào quá trình chuyển đổi số và mở rộng hệ sinh thái tài chính, công nghệ. Tuy nhiên, tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý điều chỉnh tiền kỹ thuật số vẫn chưa được xây dựng đầy đủ và thống nhất, dẫn đến nhiều khó khăn trong quản lý, kiểm soát rủi ro, cũng như bảo đảm an toàn cho các giao dịch tài chính. Trên cơ sở phân tích đặc điểm, ưu điểm và hạn chế của tiền kỹ thuật số, bài viết đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến việc quản lý và sử dụng loại tài sản này, chỉ ra những bất cập trong việc xác định địa vị pháp lý, cơ chế quản lý và sự thiếu đồng bộ giữa các quy định pháp luật có liên quan. Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý theo hướng minh bạch, thống nhất và phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế số, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm an toàn pháp lý trong thời gian tới. Từ khóa: Tiền kỹ thuật số; blockchain; tài sản số; quản lý nhà nước; thanh toán không dùng tiền mặt; chuyển đổi số; khung pháp lý. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI VỀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT

MỘT CÁCH TIẾP CẬN MỚI VỀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT

Tóm tắt: Quan hệ pháp luật là một vấn đề pháp lý hết sức cơ bản, được quan tâm cả trong lý luận cũng như thực tiễn của đời sống. Sự ổn định trong quan niệm, cách tiếp cận về quan hệ pháp luật trên thực tế từ trước tới nay cho thấy có vẻ như nó đã đạt được đến độ chuẩn mực và không cần phải nhìn nhận lại hay có cách tiếp cận mới. Tuy nhiên, đời sống pháp lý hiện nay đã có sự thay đổi từ yêu cầu nhận thức cho đến vận dụng lý luận về quan hệ pháp luật vào các hoạt động thực tiễn đòi hỏi có sự tiếp cận mới toàn diện và chuẩn xác hơn. Bài viết hướng tới việc phân tích, đánh giá để nhận thức đầy đủ, rõ ràng hơn từ cách tiếp cận mới đối với một số vấn đề có liên quan đến quan hệ pháp luật nhằm phục vụ cho sự phát triển của khoa học pháp lý cũng như thực tiễn của đời sống pháp luật. Từ khóa: Quan hệ pháp luật; chủ thể quan hệ pháp luật; khách thể quan hệ pháp luật; sự kiện pháp lý. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
HOÀN THIỆN CẤU TRÚC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG  
KỶ NGUYÊN MỚI - TỪ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC ĐẾN THỰC TIỄN LẬP PHÁP

HOÀN THIỆN CẤU TRÚC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI - TỪ TƯ DUY CHIẾN LƯỢC ĐẾN THỰC TIỄN LẬP PHÁP

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự bùng nổ của kỷ nguyên số, việc tái cấu trúc hệ thống pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực quốc gia. Bài viết tập trung phân tích những giá trị cốt lõi của Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị, đánh giá thực trạng cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay với những điểm nghẽn về tư duy và kỹ thuật lập pháp. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất nhóm giải pháp mang tính đột phá nhằm hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật, đảm bảo tính kiến tạo và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Từ khóa: Cấu trúc hệ thống; pháp luật kiến tạo; kỷ nguyên mới; Kết luận 09-KL/TW. Nhận bài: 20/4/2026 Hoàn thành biên tập: 10/6/2026 Duyệt đăng: 16/7/2026
Chào mừng Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6

Chào mừng Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam 21-6

Dự các Hội nghị có GS.TS. Phạm Hồng Thái - Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành luật học; TS. Nguyễn Quang Vinh - Tổng biên tập Tạp chí Quản lý nhà nước; đồng chí Tạ Thành Trung - Phó Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin Bộ Tư pháp; PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa - Đại biểu Quốc hội chuyên trách khóa XIV; TS. Hoàng Thị Lan - Phó Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; TS. Lê Thị Hoa - Phó Tổng biên tập Tạp chí Quản lý nhà nước; đồng chí Nguyễn Duy Lãm - Chủ tịch Hiệp hội pháp chế doanh nghiệp Việt Nam; TS. Trần Vũ Hải - Trưởng Phòng Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Luật Hà Nội; TS. Lê Tiến Hưng, Giảng viên Học viện Kỹ thuật quân sự.
cong-tu-phap
bo-tu-phap
trien-khai-thi-hanh
SỐ RA MỚI NHẤT

Trong số này:

CẢI CÁCH TƯ PHÁP
• BẢO ĐẢM VAI TRÒ NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lưu Thị Ngọc Lan
1
• TƯ DUY, NHẬN THỨC MỚI VỀ CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO NGHIÊN CỨU, GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI
Võ Khánh Vinh, Võ Khánh Minh
7
• QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TƯ DUY XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trần Thị Quyên
19

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
• NƠI CƯ TRÚ, LÀM VIỆC CỦA BỊ ĐƠN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Nguyễn Chí Hiếu
24
• LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG XẢY RA DO SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG
Nguyễn Tống Bảo Minh
31
• MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG CHỨNG ĐIỆN TỬ THEO LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2024
Nguyễn Văn Mích, Lại Thị Bích Ngà
37
• QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH VÀ KINH DOANH ONLINE, THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG CẢI CÁCH THEO CƠ CHẾ DỮ LIỆU VÀ DÒNG TIỀN
Cao Tấn Nho
43
• TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Nguyễn Mai Anh
48
• QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Hà Trọng Bắc, Nguyễn Trung Dương
54
• MẪU HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Nguyễn Mai Linh
60

• THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Đặng Tiến Đông, Tô Quang Anh
67

ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG
• CHUẨN HÓA TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN HÀNH NGHỀ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ QUẢN TÀI VIÊN - YẾU TỐ THEN CHỐT THỰC THI HIỆU QUẢ THỦ TỤC PHỤC HỒI VÀ PHÁ SẢN
Bùi Thị Hà
75
PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
• MÔ HÌNH GIÁO DỤC THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TẠI ÚC - KINH NGHIỆM CHO ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT TẠI VIỆT NAM
Đào Lệ Thu, Phạm Tiến Thành
81
• MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN THÁC TÀI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC Ở HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Châu Loan
89
• MÔ HÌNH PHÂN BỔ QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguyễn Hoài Thu
96
• XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI TỐ CÁO HỢP PHÁP - BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ ÚC VÀ HOA KỲ
Trần Vang Phủ, Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi
103
• HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI RỬA TIỀN TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT HOA KỲ
Đỗ Khánh Linh, Nguyễn Huệ Linh
109
• XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIỚI BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ - KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nguyễn Hà Chi, Nguyễn Minh Phương, Đỗ Phương Linh
115