A NEW APPROACH TO LEGAL RELATIONS
Abstract: Legal relationships constitute one of the most fundamental concepts in legal science, attracting sustained attention in both legal theory and legal practice. The long-standing stability of prevailing conceptions and approaches to legal relationships suggests that the concept has attained a normative status and requires neither reconsideration nor the development of new theoretical perspectives. However, contemporary legal developments have generated new demands, not only in the conceptual understanding of legal relationships but also in the application of the relevant theory to legal practice, thereby necessitating a more comprehensive and accurate analytical framework. This article seeks to analyze and critically evaluate several issues relating to legal relationships from a renewed theoretical perspective in order to promote a more complete and coherent understanding of the concept. It is expected that such an approach will contribute to the advancement of legal scholarship as well as to the effective functioning of the legal system in practice.
Keywords: Legal relation; subject of legal relation; object of legal relation; legal events. Date of receipt: 20/4/2026 Date of revision: 10/6/2026
Đặt vấn đề: Trong đời sống pháp lý, quan hệ pháp luật luôn có một vai trò rất quan trọng, là cầu nối giữa pháp luật với đời sống. Nhận thức đúng, đủ với những căn cứ khoa học cũng như thực tiễn về quan hệ pháp luật có ý nghĩa lớn đối với cả hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật. Để có được điều này, bài viết sử dụng một số phương pháp dựa trên cơ sở kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy như phân tích, so sánh, khảo cứu để kế thừa một số kết quả nghiên cứu khác và tổng hợp. Phương pháp phân tích giúp nhận thức sâu sắc từng vấn đề cá biệt, giúp cho phương pháp tổng hợp có cơ sở. Phương pháp so sánh cùng với kết quả của phương pháp phân tích để tìm ra sự tương đồng về quan niệm, đồng thời tìm ra yếu tố có tính mới trong cách tiếp cận nội dung các vấn đề. Phương pháp khảo cứu hướng tới cách nhìn nhận đa chiều từ các kết quả nghiên cứu trước đây, trong đó có đánh giá sự hợp lý hay chưa hợp lý của các kết quả đó, từ đó đưa ra những kết luận của tác giả. Phương pháp tổng hợp giúp tìm mối liên hệ giữa các vấn đề trong tương quan so sánh, kết nối để đưa ra các quan điểm tiếp cận nội dung của vấn đề nghiên cứu.
1. Ý nghĩa của việc nhận thức về quan hệ pháp luật
Trong các chương trình đào tạo pháp luật, các hoạt động nghiên cứu của khoa học pháp lý và trong đời sống pháp luật, quan hệ pháp luật là một phạm trù rất được quan tâm. Điều này có lý do là quan hệ pháp luật được tiếp cận dưới góc độ lý luận chung, vừa được đưa vào các nội dung của các khoa học pháp lý chuyên ngành dưới góc độ nghiên cứu và học thuật, đồng thời có ý nghĩa đối với thực tiễn của đời sống pháp luật. Trên thực tế, quan hệ pháp luật đã được đưa vào hầu hết các chương trình giảng dạy, các hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực luật học và có tính ứng dụng rất cao. Do vậy, nhận thức đúng và đầy đủ về quan hệ pháp luật có ý nghĩa rất lớn. Cụ thể: Thứ nhất, đối với khoa học pháp lý Trong khoa học pháp lý, quan hệ pháp luật là một nội dung quan trọng trên cả phương diện lý luận chung về nhà nước và pháp luật cũng như các khoa học pháp lý chuyên ngành. Trên phương diện lý luận chung, nhận thức về quan hệ pháp luật có ý nghĩa quan trọng giúp định hướng nghiên cứu cho các khoa học pháp lý chuyên ngành thể hiện ở việc cung cấp kiến thức cơ sở cho việc nhận thức với các quan điểm, các khái niệm nền tảng cho việc tiếp cận các khái niệm trong khoa học pháp lý chuyên ngành. Định hướng đúng sẽ tạo nên cách tiếp cận cũng như nội dung nhận thức thống nhất giữa các khoa học pháp lý chuyên ngành. Đối với mỗi khoa học pháp lý chuyên ngành, nhận thức đúng về quan hệ pháp luật sẽ giúp tiếp cận đối tượng nghiên cứu cụ thể một cách hợp lý, đầy đủ để xác định chính xác về loại chủ thể, nội dung cũng như khách thể của quan hệ pháp luật, cơ sở làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật. Thứ hai, đối với hoạt động thực tiễn Trong xây dựng pháp luật, nhận thức đúng về quan hệ pháp luật sẽ giúp hình thành cơ sở lý luận cho việc xác định đúng phạm vi, đối tượng điều chỉnh của pháp luật, đồng thời cũng xác định chính xác hơn các chuẩn mực hành vi khi quy định các quyền và nghĩa vụ pháp lý với tư cách là nội dung của quan hệ pháp luật. Đồng thời, nhận thức đúng về quan hệ pháp luật sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc xác lập rõ ràng hơn quan hệ giữa nhà nước với xã hội, trong đó xác định cụ thể hơn giới hạn, phương pháp tác động của nhà nước đến các cá nhân, tổ chức, đồng thời giúp các cá nhân, tổ chức sẽ biết cách ứng xử phù hợp khi tham gia vào quan hệ pháp luật tức là xác định hình thức pháp lý cho một quan hệ xã hội cụ thể được pháp luật điều chỉnh. Trong xã hội hiện đại, việc giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước là thực sự cần thiết, trong đó có kiểm soát hoạt động xây dựng pháp luật vì việc ban hành pháp luật là kênh cụ thể để thể hiện ý chí phản ánh quyền lực nhà nước. Hiểu biết về quan hệ pháp luật sẽ giúp cho nhà làm luật biết phải lựa chọn quan hệ xã hội nào để điều chỉnh vì trong xã hội có rất nhiều quan hệ xã hội khác nhau về tính chất, chủ thể tham gia, nội dung quan hệ… và các quan hệ này vốn trước đó đã được các quy phạm xã hội khác điều chỉnh, thậm chí được điều chỉnh một cách rất hiệu quả, tránh được sự can thiệp quá mức hoặc không cần thiết đến sự vận hành tự nhiên của xã hội. Do vậy, lựa chọn quan hệ xã hội nào để điều chỉnh có quan hệ mật thiết với sự hiểu biết về quan hệ pháp luật. Trong hoạt động thực hiện pháp luật, nhận thức đúng về quan hệ pháp luật có tác dụng giúp cho việc chuyển hóa đúng đắn các quan hệ xã hội vào đời sống pháp lý. Các chủ thể hiểu được tại sao phải tham gia vào quan hệ pháp luật, tại sao được/ phải thực hiện các quyền hay nghĩa vụ pháp lý đó cũng như cách thức thực hiện chúng. Vì vậy, quan hệ pháp luật được coi là cầu nối giữa quy phạm pháp luật (trạng thái tĩnh) vào đời sống (trạng thái động) của pháp luật. Có quan hệ pháp luật về nội dung, có quan hệ pháp luật về hình thức (thủ tục, tố tụng) nhưng chúng đều có nội dung bao gồm các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể tham gia. Nhận thức đúng về vấn đề này cũng có nghĩa là chủ thể thực hiện pháp luật biết cách xác lập hành vi một cách cụ thể, biết giới hạn của quyền đồng thời cũng biết trách nhiệm của việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý, đặc biệt trong các hoạt động tố tụng của các chủ thể có thẩm quyền. Trong lĩnh vực tố tụng, các loại vụ việc được giải quyết có tính chất khác nhau từ cơ sở xác định loại vụ việc, quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với những chủ thể tham gia khác nên cách thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ tố tụng cũng khác nhau rất lớn. Thực hiện pháp luật trên cơ sở có sự hiểu biết về quan hệ pháp luật sẽ có sự hiện thực hóa chính xác các quy phạm pháp luật. Với những ý nghĩa này, nhận thức chính xác và đầy đủ về quan hệ pháp luật là thực sự rất cần thiết trong điều kiện đề cao pháp luật trong nhà nước pháp quyền hiện nay, đặc biệt là trước yêu cầu của hoàn thiện thể chế và tăng cường thực thi pháp luật theo tinh thần chỉ đạo của Đảng.
2. Nội dung các vấn đề cần tiếp cận mới về quan hệ pháp luật
Thứ nhất, về khái niệm quan hệ pháp luật Khái niệm quan hệ pháp luật là một khái niệm cơ bản, được nhiều tài liệu, nhất là hệ thống giáo trình các cơ sở đào tạo luật đề cập, trực tiếp đưa ra các định nghĩa. Có thể điểm qua một số định nghĩa cho thấy điều này. Chẳng hạn “Quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh” và tương tự “quan hệ pháp luật là những quan hệ nảy sinh trong xã hội được các quy phạm pháp luật điều chỉnh” hoặc “Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh trong đó các bên có các quyền và nghĩa vụ được Nhà nước đảm bảo thực hiện”. Trong các định nghĩa này, quan hệ pháp luật luôn gắn với quy phạm pháp luật, bởi phần lớn các quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên, điều này sẽ rất khó giải thích trong trường hợp áp dụng pháp luật tương tự hoặc liên quan đến một quy định “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng”6. Hiện tượng khoảng trống pháp luật hiện nay xảy ra không ít vì sự biến chuyển nhanh chóng của đời sống xã hội, đặc biệt là sự phát triển của khoa học và công nghệ mà các nhà làm luật không dự báo được về các quan hệ có thể xảy ra và cần Nhà nước tác động để tạo ra các quyền và nghĩa vụ pháp lý. Tất nhiên, trong phạm vi nhất định, tuy không có điều luật để giải quyết trực tiếp, Tòa án vẫn có thể áp dụng quy phạm tương tự, tập quán, nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ, lẽ công bằng. Tuy nhiên phần lớn trong đó không hoặc chưa được coi là quy phạm pháp luật - vốn thường được hiểu “là quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện…”. Trên thực tế, việc tạo ra án lệ có tính quy phạm chính là trường hợp “pháp luật đi ra từ cuộc sống”, các Tòa án (hay các cơ quan tài phán) đã tự lập luận để tìm ra giải pháp pháp lý phù hợp cho việc giải quyết chứ không có quy phạm nào trước đó làm căn cứ để tạo ra phán quyết làm nguồn cho việc hình thành án lệ này. Bên cạnh đó còn những định nghĩa khác như: “Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội, xuất hiện trên cơ sở sự điều chỉnh của các quy phạm pháp và các sự kiện pháp lý tương ứng, trong đó các bên tham gia có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định, được Nhà nước bảo đảm và bảo vệ”. Theo cách tiếp cận này, quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội. Như vậy, cách tiếp cận này không thực sự logic vì nhiều quan hệ xã hội không tồn tại trong hình thức pháp lý nào, như quan hệ tình cảm, quan hệ tôn giáo… chưa được pháp luật điều chỉnh. Cách tiếp cận này cũng tương tự cách tiếp cận trên khi xác định quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật nên cũng bỏ sót những quan hệ xã hội chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh nhưng vẫn phát sinh quan hệ pháp luật. Một cách tiếp cận được coi là khá đầy đủ, hợp lý là: “quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh trong đó các bên tham gia quan hệ pháp luật có các quyền và nghĩa vụ pháp lý được Nhà nước bảo đảm thực hiện”. Việc xác định chung quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh có tính mở hơn so với trước đây do quan niệm về pháp luật mang tính khép kín khi cho rằng: “pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội”. Quan niệm về quan hệ pháp luật này xuất phát từ quan điểm mới trong cách tiếp cận về pháp luật khi không còn thuần túy coi pháp luật là ý chí của Nhà nước (và cực đoan hơn là ý chí của giai cấp thống trị) mà pháp luật phải phản ánh tập trung ý chí của toàn xã hội, còn Nhà nước chỉ là “bà đỡ” của pháp luật để giúp chính thức hóa ý chí đó thành các chuẩn mực với hình thức có tính xác định, thống nhất trên phương diện xã hội. Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, bản thân Nhà nước cũng phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng các quy luật vận động của xã hội và vì vậy pháp luật phải mang tính khách quan, được tạo nên với những căn cứ khoa học chứ không từ sự duy ý chí. Bên cạnh đó, các nguồn pháp luật hiện nay cũng được mở rộng với tư cách là những gì chứa đựng hoặc cung cấp căn cứ để xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý, tạo ra các cơ sở cho sự hình thành các quyền và nghĩa vụ pháp lý và nó không nhất thiết phải được tạo ra bởi Nhà nước, chẳng hạn như các loại hợp đồng được hình thành từ sự thỏa thuận giữa các bên có sự bình đẳng với nhau để xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên, ràng buộc họ với nhau bằng các cam kết về trách nhiệm. Ngay cả hợp đồng hành chính giữa một bên là Nhà nước với các bên còn lại cũng được hình thành trên cơ sở thỏa thuận để xã hội hóa việc thực hiện các dịch vụ công vốn do Nhà nước thực hiện trước đây. Như vậy, quan hệ pháp luật có thể hình thành trên các cơ sở khác ngoài quy phạm pháp luật. Thứ hai, phân loại quan hệ pháp luật Từ cách tiếp cận về khái niệm quan hệ pháp luật, việc phân loại quan hệ pháp luật cũng có một ý nghĩa rất quan trọng. Cách phân loại quan hệ pháp luật truyền thống nhất là phân loại các quan hệ pháp luật theo đối tượng điều chỉnh tương ứng với các ngành luật. Tuy nhiên hiện nay, việc phân định các ngành luật cũng chỉ xác định tương đối vì tính chất đan xen của đối tượng điều chỉnh. Nhận thức về hệ thống pháp luật mới ở Việt Nam hiện nay đang nổi lên vấn đề xác định cấu trúc của hệ thống pháp luật trong đó xác định rõ quy phạm pháp luật công và quy phạm pháp luật tư trong xây dựng pháp luật. Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các cơ quan Nhà nước với nhau hoặc giữa cơ quan Nhà nước với cá nhân, tổ chức (quy phạm pháp luật công) được thiết kế cụ thể, chặt chẽ, minh bạch, bảo đảm thực hiện tốt chức năng trao thẩm quyền đủ mạnh cho các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, đồng thời kiểm soát hiệu quả, phòng ngừa nguy cơ lạm dụng, lợi dụng quyền lực. Các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể là các cá nhân, tổ chức không mang quyền lực Nhà nước (quy phạm pháp luật tư) được thiết kế theo hướng chủ yếu đặt ra khung pháp lý mang tính nguyên tắc; các nội dung cụ thể để các chủ thể tự thỏa thuận trên cơ sở nhu cầu, lợi ích, quyền tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm của mình trên tinh thần không vi phạm điều cấm của luật, phát huy tính năng động, sáng tạo của người dân, doanh nghiệp, tạo động lực quan trọng để huy động mọi nguồn lực, khơi dậy mọi tiềm năng phục vụ phát triển đất nước”. Đây là cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng để xác định các quan hệ pháp luật trên cơ sở của việc xác định quy phạm luật công và quy phạm luật tư để giới hạn quyền lực, xác định trách nhiệm của Nhà nước với tư cách là người kiến tạo phát triển chứ không nhằm mục đích kiểm soát, quản lý như trước, đồng thời cũng mở rộng điều kiện cho việc hình thành các quan hệ pháp luật mới nhờ sự năng động của các cá nhân, tổ chức với sự tự do ý chí trong các thỏa thuận có tính chất dân sự. Cũng từ việc phân loại giữa luật công và luật tư này, có thể xác định đúng hơn các “vai” của các bên tham gia trong các quan hệ pháp luật, nhất là “vai” của các cơ quan tố tụng trong tương quan với các “vai” còn lại, trong đó, tính chất của “vai” mà các cơ quan tố tụng sắm trong quan hệ tố tụng hình sự rất khác quan hệ tố tụng dân sự, hành chính. Nhận thức đúng tính chất quan hệ pháp luật như vậy sẽ giúp cho việc “phân vai”, nhận và “sắm vai” chính xác để có thể giải quyết đúng đắn các loại vụ việc tương ứng. Cùng với đó, cách phân chia thành quan hệ pháp luật chung và quan hệ pháp luật cụ thể cũng rất thiết thực. Quan hệ pháp luật chung được xác lập giữa Nhà nước với xã hội qua hiến pháp và các đạo luật, trong đó các quyền và nghĩa vụ pháp luật được thể hiện dưới dạng “khung”, khuôn mẫu và là cơ sở chủ yếu để hình thành các quan hệ pháp luật cụ thể (có các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể giữa các chủ thể xác định). Khi chọn loại quan hệ xã hội nào để điều chỉnh và để hình thành quan hệ pháp luật chung, Nhà nước cần phải xác định được mục đích, phạm vi, khả năng điều chỉnh dựa vào loại quan hệ xã hội đó phải hội đủ các dấu hiệu: thứ nhất, phải có tính phổ biến; thứ hai, phải có ảnh hưởng đến sự vận động, phát triển chung của xã hội; thứ ba, có thể điều chỉnh được; thứ tư, được phép điều chỉnh; thứ năm, Nhà nước thấy việc điều chỉnh thực sự cần thiết. Đây là những căn cứ để giới hạn quyền lực Nhà nước, hạn chế sự can thiệp quá mức, không cần thiết vào sự vận động của xã hội, đồng thời cũng để tạo không gian tự do cao nhất cho sự phát triển của xã hội hiện đại theo phương châm “Nhà nước nhỏ, xã hội lớn” đang trở thành khuynh hướng hiện nay. Trên cơ sở xác định các quan hệ pháp luật chung này, các quan hệ pháp luật cụ thể được hình thành một cách vừa linh hoạt trong xã hội phát triển nhanh như hiện nay vừa giúp cho Nhà nước giảm đi gánh nặng quản lý khi các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật được chủ động khi tự xác định các nội dung quan hệ pháp luật. Thứ ba, về chủ thể quan hệ pháp luật Chủ thể của quan hệ pháp luật cũng cần được tiếp cận mở hơn so với các cách tiếp cận truyền thống. Hầu hết các quan điểm trước đây xác định chủ thể là các cá nhân, tổ chức có năng lực chủ thể để tham gia quan hệ pháp luật với các quyền và nghĩa vụ pháp lý. Chẳng hạn, “Chủ thể quan hệ pháp luật là các cá nhân hay tổ chức có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định theo quy định của pháp luật” hay “Chủ thể quan hệ pháp luật là những bên tham gia quan hệ pháp luật, có các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật”. Có một định nghĩa khác là “chủ thể quan hệ pháp luật là các cá nhân, tổ chức có những điều kiện do pháp luật quy định và tham gia vào quan hệ pháp luật”. Tuy nhiên, chủ thể quan hệ pháp luật hiện đã được nhìn nhận mở hơn. Ngoài cá nhân, tổ chức có tư cách pháp nhân, chủ thể cũng đã được pháp luật quy định thêm như hộ gia đình, tổ hợp tác hay tổ chức khác không có tư cách pháp nhân như cộng đồng dân cư như trong các Bộ luật Dân sự năm 1995, năm 2005, năm 2015. Điều này làm đa dạng hóa các loại chủ thể quan hệ pháp luật trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay. Mặc dù vậy, việc không thừa nhận cộng đồng dân cư có tư cách pháp nhân cũng là vấn đề cần thảo luận lại vì cộng đồng dân cư có hầu hết các dấu hiệu của pháp nhân như được Nhà nước thừa nhận (thôn, làng, bản, tổ dân phố) với thời gian tồn tại có thể lâu hơn nhiều so với phần lớn các pháp nhân, có cơ cấu tổ chức thể hiện ở người đại diện hợp pháp rất chính danh (trưởng thôn, trưởng bản, tổ trưởng tổ dân phố được bầu, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận), có tài sản độc lập và cũng có thể khởi kiện hoặc bị kiện dân sự. Có thể lấy một ví dụ về việc tranh chấp số tiền bán gỗ sưa của thôn Phụ Chính (xã Hòa Chính, huyện Chương Mỹ cũ) với chính quyền để thấy địa vị pháp lý của cộng đồng dân cư cần được nhìn nhận lại. Bên cạnh đó, một vấn đề mới phát sinh liên quan đến chủ thể quan hệ pháp luật. Đó là các thực thể khác như các trang mạng (website), Grabbike, Uber, Facebook…, đặc biệt là có trường hợp hai người máy có thể tương tác với nhau vượt ra khỏi chương trình phức tạp được cài đặt riêng cho chúng và người chế tạo, sử dụng buộc phải cho dừng hoạt động bởi nguy cơ mà chúng có thể tạo ra mà con người không thể kiểm soát… Đây là những thực thể hoạt động, có tương tác phức tạp, có ảnh hưởng rất lớn trên phạm vi rộng. Có nhiều sự kiện có thể làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý từ các hoạt động của các thực thể này. Đây có thể coi là các chủ thể của quan hệ pháp luật hay không cũng cần được nghiên cứu làm rõ. Thứ tư, về nội dung quan hệ pháp luật: tiếp cận theo truyền thống bao gồm các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia. Về khách thể quan hệ pháp luật Từ trước tới nay, vấn đề khách thể đã được đưa vào nghiên cứu và giảng dạy cùng với hệ thống giáo trình phong phú. Tuy nhiên, hầu hết các nội dung nghiên cứu, giảng dạy vấn đề này chưa nêu bật được ý nghĩa của chúng. Mặt khác, nhận thức về khách thể quan hệ pháp cũng có sự không thống nhất, ngoài một điểm chung được thừa nhận đó là mục đích tham gia các quan hệ pháp luật của các chủ thể - cái mà quan hệ pháp luật hướng tới, tác động tới. Khách thể quan hệ pháp luật cũng chính là cái mà vì nó nên các bên đi đến thiết lập các quan hệ pháp luật. Điều chưa được làm rõ là hướng tới cái gì, tác động tới cái gì bởi có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng “khách thể quan hệ pháp luật là những gì mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, là cái mà quan hệ pháp luật hướng tới, tác động tới, đó là những lợi ích vật chất, chính trị, tinh thần”. Nếu theo cách tiếp cận này thì khách thể có vẻ nằm ngoài quan hệ pháp luật (là cái mà quan hệ pháp luật hướng tới) chứ không phải là yếu tố cấu thành của chính quan hệ pháp luật. Cũng có quan điểm xác định khách thể rất đơn giản là “những lợi ích vật chất hoặc phi vật chất mà các chủ thể mong muốn đạt được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật” hay “Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích vật chất, tinh thần hoặc các lợi ích xã hội khác mà các chủ thể mong muốn đạt được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật”. Điều cần bàn là ý nghĩa của khách thể quan hệ pháp luật. Nếu xác định khách thể quan hệ pháp luật mà hầu hết các quan niệm đều cho rằng đó là những lợi ích mà các bên tham gia quan hệ mong muốn đạt được thì khi giải thích về khách thể trong lĩnh vực công, nhất là trong các quan hệ pháp luật hành chính với tính chất bất bình đẳng giữa một bên điều hành và một bên chấp hành, sẽ có bất cập. Người bị quản lý chưa chắc đã mong muốn cái gọi là lợi ích đó, thậm chí là ngược lại. Chẳng hạn, quan hệ hành chính xảy ra khi có vi phạm trong quản lý trật tự giao thông, khách thể không thể là lợi ích mà các bên mong muốn đạt được. Đó là trật tự quản lý Nhà nước về giao thông - cái mà các bên hướng tới nhưng không phải là để mong muốn đạt được vì cảnh sát giao thông hướng tới để bảo vệ (mong muốn của Nhà nước), trong khi đó người vi phạm hướng tới xâm phạm trật tự này (mong muốn của người vi phạm là đi cho nhanh, cho tiện đối với bản thân họ). Vì vậy, trật tự quản lý Nhà nước về an toàn giao thông là lý do để các bên tham gia vào quan hệ pháp luật cụ thể này, làm hình thành quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên. Trong lĩnh vực hình sự, khách thể quan hệ pháp luật chung được xác định giữa Nhà nước với toàn xã hội là các quyền và lợi ích hợp pháp của quốc gia, của Nhà nước, của các cá nhân, tổ chức cần được bảo vệ trước nguy cơ xâm hại của tội phạm vì Luật Hình sự ra đời có chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của các cá nhân, tổ chức... Từ khách thể chung này, đối với mỗi nhóm quan hệ xã hội cụ thể, khách thể của quan hệ pháp luật được xác định trực tiếp và cụ thể hơn giữa Nhà nước với người phạm tội và là cơ sở để xác định khách thể của tội phạm. Do có những điểm gần nhau giữa khách thể của quan hệ pháp luật hình sự với khách thể của tội phạm nên cần có sự phân biệt nhất định giữa khách thể của quan hệ pháp luật hình sự với khách thể của tội phạm. Điểm phân biệt ở đây là khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ nhưng đã bị hành vi phạm tội xâm hại. Trong lĩnh vực tố tụng, khách thể của các quan hệ pháp luật là trật tự pháp luật phải tuân thủ để đảm bảo sự đúng đắn cho việc giải quyết các loại vụ, việc. Khách thể này là cơ sở để xác định nên quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bên khi tham gia tố tụng để giúp cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý về nội dung được xác định chính xác, vừa đảm bảo được sự nghiêm minh, vừa đảm bảo được sự công bằng trên thực tế. Do vậy, cần xem lại cách quan niệm về khách thể của quan hệ pháp luật với cách tiếp cận này khi có sự lẫn lộn giữa khách thể quan hệ pháp luật với nhu cầu của chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật. Có một cách tiếp cận mới là “khách thể của quan hệ pháp luật là yếu tố làm cho giữa các bên chủ thể có mối quan hệ pháp luật đối với nhau”. Cách tiếp cận này thể hiện cách hiểu tương đối bao quát về khách thể của quan hệ pháp luật. Tuy nhiên, để cụ thể hơn, theo tác giả, cần xác định khách thể quan hệ pháp luật là căn nguyên hay lý do để thiết lập quan hệ pháp luật, là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể trong quan hệ pháp luật. Nói cách khác, khách thể quan hệ pháp luật là những gì mà vì nó các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật. Đây vẫn là điểm chung của các bên tham gia, nằm trong quan hệ pháp luật. Điều này đúng cho cả việc xác định quan hệ pháp luật chung trong hoạt động xây dựng pháp luật hay quan hệ pháp luật cụ thể giữa các chủ thể trực tiếp với nhau. Đây cũng khắc phục điểm xung đột trong mục đích giữa các chủ thể tham gia khi mong muốn hoặc không mong muốn đạt được cái được gọi là giá trị vật chất, tinh thần hay những lợi ích khác bằng cách xác định điểm chung mà chủ thể hướng tới. Đặc biệt, trong hoạt động xây dựng pháp luật, khách thể quan hệ pháp luật là căn cứ để xác định nội dung của quan hệ pháp luật bao gồm các quyền và nghĩa vụ pháp lý làm cơ sở để hình thành quan hệ pháp luật cụ thể. Trên thực tế, các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật cụ thể không quan tâm xác định khách thể là gì mà chủ yếu quan tâm tới việc họ đạt được điều gì và mong muốn đạt được giữa các chủ thể có thể là khác nhau. Chẳng hạn, khi tham gia quan hệ mua bán nhà, người mua quan tâm đến ngôi nhà - hay còn gọi là đối tượng mua và bán - mà họ muốn mua, người bán muốn quan tâm đến giá trị vật chất mà họ thu được khi bán mà không cần quan tâm đến việc xác định khách thể quan hệ này nhiều. Cũng vì lý do này mà hiện nay vẫn có quan điểm đồng nhất khách thể quan hệ pháp luật với đối tượng cụ thể trong quan hệ pháp luật, nhất là trong lĩnh vực dân sự. Chỉ trong hoạt động xây dựng pháp luật, nhà làm luật mới chính là người cần xác định khách thể là quyền sở hữu ngôi nhà trong giao dịch để xác định nội dung quan hệ và cũng để định hướng hành vi cho các bên tham gia các quan hệ pháp luật cụ thể. Trong quan hệ pháp luật cụ thể này, người bán hướng tới quyền định đoạt quyền sở hữu ngôi nhà (một nội dung của quyền sở hữu), người mua hướng tới xác lập quyền sở hữu ngôi nhà. Cùng đối tượng là ngôi nhà nhưng quan hệ giữa người cho thuê và người đi thuê sẽ có khách thể là quyền sử dụng ngôi nhà. Khách thể là quyền sở hữu nhà hay quyền sử dụng nhà là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ trong mua bán nhà hay thuê nhà là khác nhau. Chúng quy định giá cả rất khác nhau giữa mua - bán và thuê - cho thuê. Tương tự như vậy, đối với các quan hệ pháp luật hình thành trong việc cung cấp, sử dụng dịch vụ (khách sạn, giao thông, chăm sóc sức khỏe…) thì chất lượng dịch vụ là khách thể quan hệ pháp luật sẽ quy định quyền và nghĩa vụ cung cấp hay hưởng thụ dịch vụ, trả phí… của các bên thể hiện qua giá cả cao hay thấp tùy thuộc vào chất lượng dịch vụ đó. Thứ sáu, về căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật Trong vấn đề này, quan hệ pháp luật được tiếp cận dưới góc độ là quan hệ pháp luật cụ thể. Có nhiều cách tiếp cận về căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật. Chẳng hạn, “quan hệ pháp luật phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt dưới tác động của 3 điều kiện: quy phạm pháp luật, năng lực chủ thể và sự kiện pháp lý” và một quan điểm tương tự, tức là một quan hệ pháp luật có phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt hay không đều cần đến ba yếu tố24. Đây là cách tiếp cận truyền thống tương đối đồng thuận và thực tế, phần lớn các quan hệ pháp luật phát sinh gắn với các điều kiện này. Tuy nhiên, cách tiếp cận này sẽ vướng mắc khi các quan hệ pháp luật vẫn có thể phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt mà không nhất thiết có đầy đủ cả ba yếu tố này. Chẳng hạn, không nhất thiết phải có quy phạm pháp luật trong trường hợp như quy định tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được trích dẫn ở trên, hay không nhất thiết phải xác định năng lực chủ thể trong các trường hợp vắng chủ thể có năng lực pháp luật dẫn đến chấm dứt quan hệ pháp luật hoặc thay đổi quan hệ pháp luật, ví dụ không có người thừa kế di sản của người chết, quan hệ sở hữu vẫn phát sinh đối với Nhà nước (làm thay đổi chủ thể quan hệ pháp luật). Tuy nhiên, một điều kiện không thể thiếu được là sự kiện pháp lý. Thường thì sự kiện pháp lý là sự kiện thực tế đã được các quy phạm pháp luật dự liệu trong các bộ phận giả định của quy phạm pháp luật nhưng không phải bao giờ nhà làm luật cũng dự liệu được hết các tình huống có thể xảy ra trên thực tế. Sự kiện pháp lý là điều kiện bắt buộc trong mọi trường hợp làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật. Đó là sự kiện thực tế xảy ra được pháp luật gắn với sự phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật. Nếu thiếu sự kiện pháp lý, quy phạm pháp luật chỉ tồn tại dưới trạng thái tĩnh, năng lực chủ thể không có ý nghĩa. Có quan điểm cho rằng “sự kiện pháp lý là những sự kiện mà bản thân sự xuất hiện, tồn tại của nó phải được pháp luật ghi nhận và Nhà nước xác nhận. Đây là dấu hiệu pháp lý quan trọng làm tiền đề cho việc phân tích đối chiếu với sự kiện thực tế. Nếu không được pháp luật quy định và sự xác nhận của cơ quan Nhà nước thì đó không phải là sự kiện pháp lý và đương nhiên không có khả năng thiết lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật cụ thể”. Tuy nhiên, quan niệm như vậy phải đồng thời thỏa mãn 2 điều kiện là pháp luật quy định và sự xác nhận của cơ quan Nhà nước cho việc xác định một sự kiện pháp lý cũng làm hạn chế đi khả năng thực tế làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt pháp luật. Thực ra, khi pháp luật chưa dự liệu được nhưng sự kiện thực tế phát sinh và Nhà nước vẫn xác định có ý nghĩa pháp lý (làm phát sinh các quyền hay nghĩa vụ pháp lý) thì vẫn có thể coi là sự kiện pháp lý. Do vậy, sự kiện pháp lý chỉ nên được xác định là sự kiện thực tế làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật là đủ. Việc xác định như vậy sẽ làm cho cách tiếp cận về quan hệ pháp luật trở nên linh hoạt hơn, là cơ sở để thích ứng với các điều kiện xã hội phát triển rất năng động hiện nay.
Kết luận: Quan hệ pháp luật là một vấn đề phức tạp của khoa học pháp lý và đời sống pháp lý trong thực tiễn. Nhận thức là một quá trình liên tục nên quan hệ pháp luật cũng cần được nhận thức lại cho đầy đủ, chính xác hơn. Bài viết nhằm góp thêm một cách tiếp cận mới ít nhiều có tính chất gợi mở về quan hệ pháp luật với kỳ vọng bổ sung nhận thức về vấn đề quan hệ pháp luật. Rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của các nhà khoa học, những người hoạt động thực tiễn và quý vị để tác giả có thể hoàn thiện hơn nhận thức của mình về vấn đề này./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Võ Khánh Vinh (2002), Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Đại học Huế, Trung tâm đào tạo từ xa, Nxb Công an nhân dân.
2. Lê Minh Tâm, Nguyễn Minh Đoan (2013), Lý luận Nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân.
3. Hoàng Thị Kim Quế (2005), Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
4. Lê Văn Long (2013), Những vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia.
5. Nguyễn Minh Đoan, Nguyễn Văn Năm (2024), Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tư pháp.
6. Bùi Xuân Phái (2022), Yêu cầu thống nhất nhận thức về nguồn của pháp l
Trong số này:
CẢI CÁCH TƯ PHÁP
• BẢO ĐẢM VAI TRÒ NGƯỜI BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Lưu Thị Ngọc Lan
1
• TƯ DUY, NHẬN THỨC MỚI VỀ CÁC XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO NGHIÊN CỨU, GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI
Võ Khánh Vinh, Võ Khánh Minh
7
• QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI TƯ DUY XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trần Thị Quyên
19
NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
• NƠI CƯ TRÚ, LÀM VIỆC CỦA BỊ ĐƠN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Nguyễn Chí Hiếu
24
• LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG XẢY RA DO SỰ KIỆN BẤT KHẢ KHÁNG
Nguyễn Tống Bảo Minh
31
• MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG CHỨNG ĐIỆN TỬ THEO LUẬT CÔNG CHỨNG NĂM 2024
Nguyễn Văn Mích, Lại Thị Bích Ngà
37
• QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH VÀ KINH DOANH ONLINE, THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG CẢI CÁCH THEO CƠ CHẾ DỮ LIỆU VÀ DÒNG TIỀN
Cao Tấn Nho
43
• TÁC ĐỘNG CỦA CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Nguyễn Mai Anh
48
• QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HẠN CHẾ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Hà Trọng Bắc, Nguyễn Trung Dương
54
• MẪU HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Nguyễn Mai Linh
60
• THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Đặng Tiến Đông, Tô Quang Anh
67
ĐÀO TẠO - BỒI DƯỠNG
• CHUẨN HÓA TIÊU CHUẨN, ĐIỀU KIỆN HÀNH NGHỀ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ QUẢN TÀI VIÊN - YẾU TỐ THEN CHỐT THỰC THI HIỆU QUẢ THỦ TỤC PHỤC HỒI VÀ PHÁ SẢN
Bùi Thị Hà
75
PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
• MÔ HÌNH GIÁO DỤC THỰC HÀNH PHÁP LUẬT TẠI ÚC - KINH NGHIỆM CHO ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT TẠI VIỆT NAM
Đào Lệ Thu, Phạm Tiến Thành
81
• MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÍN THÁC TÀI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC Ở HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM ĐỂ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM
Nguyễn Thị Châu Loan
89
• MÔ HÌNH PHÂN BỔ QUYỀN LỰC TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Nguyễn Hoài Thu
96
• XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH VÀ KHEN THƯỞNG CHO NGƯỜI TỐ CÁO HỢP PHÁP - BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ ÚC VÀ HOA KỲ
Trần Vang Phủ, Nguyễn Thị Hàng Diễm Mi
103
• HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI RỬA TIỀN TRÊN CƠ SỞ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT HOA KỲ
Đỗ Khánh Linh, Nguyễn Huệ Linh
109
• XỬ LÝ HÀNH VI BẠO LỰC GIỚI BẰNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ - KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nguyễn Hà Chi, Nguyễn Minh Phương, Đỗ Phương Linh
115